Mở đầu,. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm y tế và pháp luật về bảo hiểm y tế. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm y tế và thực tiễn thực hiện tại Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Chƣơng 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế.
Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 14 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Khái quát chung về BHYT 1. Khái niệm BHYT Bảo hiểm nói chung là hình thức chia sẻ rủi ro của những ngƣời tham gia bằng cách từng ngƣời trong cộng đồng sẽ đóng góp một số tiền nhất định (phí bảo hiểm) vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên cùng tham gia nếu họ không may gặp rủi ro.
Thủa ban đầu, BHYT ra đời là hình thức bảo hiểm ốm đau và thƣơng tật cho ngƣời lao động làm việc tại doanh nghiệp [17, trang 13]. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì việc chăm sóc y tế là một trong chín nội dung của chính sách ASXH đƣợc nêu trong Công ƣớc số 102 - Công ƣớc về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, 1952 theo đó, ngƣời dân cần đƣợc bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế có tính chất phòng bệnh hoặc chữa bệnh [37, Điều 7]. Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngƣời tham gia BHYT – tuỳ từng đối tƣợng theo quy định của pháp luật, nếu họ bị ốm đau, bệnh tật thì sẽ đƣợc BHYT chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh.
BHYT là loại hình bảo hiểm không vì mục đích lợi nhuận nhằm chăm sóc sức khoẻ cho những ngƣời tham gia bằng cách quỹ BHYT chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho ngƣời tham gia [36, trang 15]. BHYT là thuật ngữ đƣợc giải thích trong từ điển bách khoa là loại bảo hiểm do Nhà nƣớc tổ chức, quản lý theo một quỹ chung thống nhất nhằm huy động sự 15 đóng góp của các thành viên, các tổ chức trong xã hội … để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho ngƣời tham gia khi họ gặp các rủi ro về sức khoẻ[19]. Từ văn bản pháp luật thì BHYT được hiểu là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật này [29, Khoản 1 Điều 2]. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [29, Khoản 1 Điều 1].
Nhƣ vậy, hiểu một cách chung nhất thì BHYT là cách thức huy động sức mạnh tài chính của mọi tổ chức, cá nhân ngƣời tham gia, dƣới sự tổ chức và quản lý của Nhà nƣớc, thực hiện nguyên tắc chia sẻ rủi ro, lấy tiền đóng góp của số đông những ngƣời khỏe mạnh, bù đắp, trợ giúp thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho số ít ngƣời tham gia không may gặp rủi ro về sức khoẻ cần điều trị. BHYT là chính sách ASXH nhằm phục vụ nhân dân chứ không phải hoạt động kinh doanh tìm kiếm , lợi nhuận. Từ những phân tích trên, chúng ta thấy, thuật ngữ BHYT đƣợc tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, nhƣng tựu trung lại thì đều nhận thấy BHYT có một số đặc điểm cơ bản nhƣ: BHYT đƣợc thiết lập trên cơ sở sự đóng góp của ngƣời tham gia; BHYT thực hiện chi trả chi phí cho các các hoạt độngchăm sóc sức khỏe, chữa bệnh; BHYT không phục vụ mục đích kinh doanh. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm BHYT nhƣ sau: BHYT là loại hình bảo hiểm sức khỏe do Nhà nước tổ chức và quản lí nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cả cộng đồng xã hội, phục vụ mục đích 16 chăm lo sức khoẻ, khám và chữa bệnh cho nhân dân mà không vì mục đích lợi nhuận.
Bảo hiểm y tế toàn dân là việc toàn bộ ngƣời dân thuộc đối tƣợng tham gia BHYT quy định trong Luật BHYT đều tham gia. Đặc điểm của BHYT Từ phân tích khái niệm BHYT, chúng ta có thể nhận thấy BHYT có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, về tính chất của BHYT, BHYT do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện và mang tính bắt buộc đối với mọi ngƣời. BHYT có đối tƣợng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong xã hội, cả ngƣời có quốc tịch Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài, không phân biệt giới tính, tuổi tác, có tham gia quan hệ lao động hay không. Thứ hai, mục tiêu của chính sách BHYT là chăm sóc sức khỏe cho toàn bộ ngƣời dân thông qua chi phí y tế do cơ quan bảo hiểm chi trả.
BHYT là một bộ phận quan trọng của ASXH, nhằm mục đích ASXH. BHYT không nhằm mục tiêu bù đắp cho thu nhập cho ngƣời tham gia bảo hiểm nhƣ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà nhằm chăm sóc sức khỏe cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro về sức khoẻ trên cơ sở sự tham gia đóng phí BHYT của họ. Vì vậy, giá trị của BHYTchính là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh khi ngƣời tham gia bị ốm đau, bệnh tật. Thứ ba, các bên tham gia BHYT, tổ chức BHYT không vì mục đích lợi nhuận.
BHYT với mục tiêu cao nhất là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Các chi phí khám chữa bệnh của ngƣời tham gia BHYT đƣợc cơ quan bảo hiểm thanh toán từ Quỹ BHYT. Thứ tƣ, nếu nhƣ BHXH, BHTN thì chế độ hƣởng dành cho ngƣời tham gia phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng và xác định trƣớc… thì chế độ hƣởng BHYT của ngƣời tham gia khi gặp rủi ro là không xác định trƣớc, không phụ thuộc vào thời gian đóng, mức đóng mà căn cứ vào mức độ bệnh tật của ngƣời đƣợc hƣởng chế độ BHYT và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế của cơ sở điều trị. Đây 17 có lẽ là sự thể hiện mức độ chia sẻ rủi ro cao nhất của chế độ BHYT so với các chế độ bảo hiểm khác trong hệ thống ASXH.
Thứ năm, quỹ BHYT đƣợc hình thành từ chính sự đóng góp tham gia BHYT của mỗi ngƣời dân, của NSDLĐ trong quan hệ lao động, của Nhà nƣớc và của cộng đồng. Thứ sáu, về phƣơng thức thực hiện BHYT. Đây là quan hệ diễn ra giữa các bên: bên thực hiện BHYT, bên tham gia BHYT và đơn vị thực hiện việc khám chữa bệnh. Vì vậy, so với các loại hình bảo hiểm nhƣ BHXH, BHTN hay bảo hiểm thƣơng mại thƣờng chỉ bao gồm bên tham gia bảo hiểm (thƣờng là bên đóng phí) và bên thực hiện bảo hiểm(thƣờng là cơ quan bảo hiểm của nhà nƣớc hoặc công ty bảo hiểm) thì việc thực hiện BHYT luôn có sự tham gia của bên thứ ba là đơn vị khám chữa bệnh, điều trị cho ngƣời tham gia BHYT khi họ bị ốm đau, bệnh tật.
Đây là đơn vị thực hiện việc khám chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ y tế cho ngƣời tham gia BHYT. Các chi phí y tế sẽ đƣợc cơ quan BHYT chi trả một phần hoặc toàn bộ cho cơ sở khám chữa bệnh tuỳ thuộc vào đối tƣợng hƣởng chế độ BHYT là ai. Ví dụ: ngƣời hƣởng BHYT là ngƣời có công với cách mạng thì đƣợc BHYT chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh, nhƣng ngƣời hƣởng BHYT là ngƣời đang hƣởng lƣơng hƣu thì mức hƣởng là 95%. Vì vậy, để thực hiện chính sách BHYT thành công cần có sự phối hợp, hợp tác hài hòa giữa các chủ thể, đặc biệt là với đơn vị khám chữa bệnh.
Vai trò của BHYT Việt Nam đồng tình với quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khi cho rằng BHYT là một nội dung thuộc ASXH và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm bảo đảm chi phí y tế cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro về sức khoẻ. Trong những năm gần đây chính sách BHYT của Việt Nam đã trở thành một trong những trụ cột chính trong hệ thống ASXH của nƣớc ta, là cơ chế tài chính y tế quan trọng giúp nhân dân khi gặp rủi ro về sức khoẻ không 18 bị rơi vào cảnh đói nghèo. Vì vậy, chúng ta có thể thấy BHYT có vai trò to lớn thể hiện ở những khía cạnh sau đây: - Về khía cạnh kinh tế: BHYT là một cách thức giúp đỡ tài chính hữu hiệu và cần thiết cho ngƣời tham gia BHYT và gia đình họ khi họ không may gặp rủi ro về sức khoẻ [35, trang 168]. Chúng ta đều biết sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi ngƣời, có sức khỏe là có ƣớc mơ và có khả năng thực hiện ƣớc mơ nhƣng không có sức khỏe thì chỉ có một ƣớc mơ là có sức khỏe, có sức khoẻ thì mới có thể tham gia lao động, sản xuất, và chăm sóc những ngƣời thân yêu, cũng nhƣ thƣởng thức những giá trị của cuộc sống.
Khi gặp rủi ro sức khoẻ, không phải ai cũng có đủ nguồn tài chính tích luỹ để thanh toán các chi phí khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, tham gia BHYT sẽ giúp họ thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí, giúp họ giảm tải gánh nặng về tài chính đối với họ và gia đình, họ sớm có thể quay lại công việc để làm việc nuôi sống bản thân, gia đình và góp phần phát triển kinh tế xã hội - Về khía cạnh xã hội: BHYT là một trong những trụ cột chính của chính sách ASXH, là cơ chế tài chính căn bản của một đất nƣớc nhằm bảo vệ vàchăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính sách BHYT của Việt Nam bắt đầu thực hiện trong thập niên cuối của thế kỷ 20. Trong hơn hai thập kỷ qua, BHYT đã thể hiện là một chính sách ASXH hữu hiệu của Nhà nƣớc, phù hợp với sự đổi mới của đất nƣớc.
BHYT còn góp phần bảo đảm sự công bằng giữa những ngƣời bị ốm đau, bệnh tật trong việc khám chữa bệnh.