Chương I Nghị định số 146/2018/NĐ – CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT thì đối tượng tham gia BHYT bắt buộc bao gồm các nhóm chủ yếu sau: Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng là nhóm tham gia chủ yếu và là nhóm đông nhất trong tất cả các nhóm đối tượng tham gia BHYT. Nhóm này bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động); Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật. Đây là đối tượng trực tiếp lao động, do đó sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro về sức khỏe như: bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động. BHYT sẽ là chỗ dựa về tài chính cho NĐ khi họ không may gặp rủi ro về sức khỏe.
Nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng; Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Nhóm do Tổ chức BHXH đóng bao những người đang không có thu nhập, những người không có khả năng lao động hoặc hết tuổi lao động, không có thu nhập để đóng phí BHYT nhưng vẫn được tham gia BHYT và thụ hưởng nó. Do đó, trong đây là nhóm đóng BHYT có tính chất ổn định nhất. Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm: Sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước; Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân sách 11 nhà nước; Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này; Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật; Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam.
Việc Ngân sách Nhà nước đóng cho các đối tượng trên có thể thấy nỗ lực cố gắng của Đảng và Nhà nước trong việc tiến tới BHYT toàn dân rất cao. Quy định này thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng. Đặc biệt đối với những đối tượng là hộ nghèo, người dân tộc sống ở khu vực kinh tế khó khăn, việc mua thẻ BHYT để bảo vệ, CSSK là điều mà rất khó có thể thực hiện được, nhờ có quy định này mà họ có điều kiện để bảo vệ, CSSK của mình, tiếp cận với các dịch vụ y tế. Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Học sinh, sinh viên.
Ngoài ra còn các nhóm bảo hiểm theo hộ gia đình, công nhân cao su, người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình. Đây là các đối tượng thuộc diện khó khăn, đối tượng thuộc diện chưa có thu nhập và sống phụ thuộc vào gia đình. Do đó việc bảo vệ, CSSK cho nhóm đối tượng này là rất cần thiết. Việc hỗ trợ mức đóng BHYT cho ba đối tượng trên như hiện này sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thành công chính sách BHYT toàn dân.
Nhóm tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình: bao gồm những người có tên trong Sổ hộ khẩu, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 12 của Luật BHYT 2014; người có tên trong Sổ tạm trú trừ đối tượng quy định tại các Điều 1, 2, 3 , 4 và 6 Nghị định số 146/2018/NĐ - CP và đối tượng đã tham gia BHYT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 146/2018/NĐ- CP. Ngoài ra, các đối tượng 12 sau cũng được tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình: Chức sắc, chức việc, nhà tu hành; Người sinh sống trong cơ sở bảo trợ xã hội trừ đối tượng quy định tại các Điều 1, 2, 3, 4 và 6 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế. Ở nước ta, phần đa các gia đình ở khu vực nông thôn, vùng núi vẫn chưa làm tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, vì vậy phần lớn các gia đình đều đông con, trong gia đình có nhiều thế hệ chung sống. Do đó, nếu chỉ có những người đi làm thuộc diện phải tham gia BHYT bắt buộc còn những người còn lại không tham gia BHYT khi rủi ro về sức khỏe xảy ra thì gánh nặng tài chính sẽ dồn lên đôi vai của một vài thành viên khác trong gia đình, dẫn đến kinh tế gia đình đã khó khăn lại càng khó khăn thêm.
Nhóm do người sử dụng lao động đóng: theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP, nhóm do người sử dụng lao động đóng bao gồm: Thân nhân của công nhân, viên chức quốc phòng đang phục vụ trong Quân đội, bao gồm đối tượng theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 13 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP; Thân nhân của công nhân công an đang phục vụ trong Công an nhân dân bao gồm đối tượng theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 13 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP; Thân nhân của người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu, bao gồm đối tượng theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 13 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP. Để thực hiện thành công Đề án BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước ta đề ra thì việc quy định BHYT bắt buộc đối với tất cả người dân là vô cùng cần thiết nhằm tiến tới BHYT toàn dân. Tính pháp lý của việc bắt buộc này mang ý nghĩa nhân văn, vì lợi ích CSSK cho người dân. Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã thực hiện được một nhiệm vụ vô cùng lớn, đó là từng bước đưa BHYT đến với tất cả người dân trong cả nước nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, CSSK nhân dân, đồng thời qua đó cũng là một kênh để quỹ BHYT huy động thêm nội lực để ứng phó với tình hình bệnh tật ngày càng phức tạp và khó kiểm soát trong tình hình hiện nay.
Theo thống kê từ cơ quan BHXH Việt Nam, tính đến năm 2020, số người tham gia BHYT đạt tỷ lệ bao phủ 89% dân số. Đây là một tín hiệu đáng mừng để đảm bảo chính sách BHYT toàn dân. Hiện nay, khoảng 11% dân số chưa tham gia BHYT thuộc các hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình còn 13 thấp. Đối tượng này được Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng BHYT 1.
Chế độ hưởng bảo hiểm y tế 1. Phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT Phạm vi hưởng BHYT là quyền lợi BHYT mà người tham gia BHYT được hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra (ốm đau, bệnh tật phải đi KCB) trong phạm vi chi trả BHYT được pháp luật quy định. Phạm vi hưởng BHYT của từng đối tượng tham gia BHYT sẽ có sự khác nhau nhất định. Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con.
Vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật BHYT 2014 trong trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật. Luật BHYT hiện hành quy định gói quyền lợi của người tham gia BHYT rất rộng, bao phủ hầu hết các dịch vụ y tế mà ngành y tế Việt Nam có thể cung cấp, kể cả các dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn. Việt Nam cũng là số ít các nước mà quỹ BHYT chi trả cả cho việc điều trị các bệnh hiếm. Về phạm vi khám chữa bệnh (KCB), bên cạnh các dịch vụ điều trị, quỹ BHYT đã chi trả cả cho các dịch vụ phục hồi chức năng, khám thai định kỳ và sinh con.
Danh mục thuốc, vật tư y tế (VTYT), dịch vụ kỹ thuật cũng được điều chỉnh thường xuyên (tên loại, hạng bệnh viện được sử dụng, tỷ lệ chi trả) để phù hợp với nhu cầu KCB, sự phát triển khoa học kỹ thuật, và hiệu quả sử dụng quỹ BHYT. Một số nhóm đối tượng không phải áp dụng cùng chi trả chi phí; mức hưởng BHYT khi KCB trái tuyến cũng được điều chỉnh tăng lên trong Luật BHYT 2014. Mức hưởng bảo hiểm y tế Người tham gia BHYT khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các Điều 26, 27 và 28 của Luật BHYT 2014 thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau: 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật BHYT 2014.