CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái quát chung về bảo hiểm y tế với người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm người dân tộc thiểu số Thuật ngữ “Dân tộc” đã xuất hiện rất nhiều và quá quen thuộc đối với mọi người dân. Khi xét thuật ngữ này vào các mối quan hệ khác nhau thì nó sẽ mang các ngữ nghĩa khác nhau.
Vậy Dân tộc là gì? Dân tộc mang những nét đặc trưng như thế nào? Dân tộc là quốc gia theo nghĩa rộng, gồm cộng đồng người dân cùng nhau sinh sống trên một lãnh thổ rộng lớn, được vận hành bởi sự quản lý của bộ máy nhà nước, trong một dân tộc thì có thể gồm nhiều tộc người, mỗi tộc người lại có những nét văn hóa và ngôn ngữ khác nhau tạo ra nét phong phú, độc đáo. Ngoài ra dân tộc còn được hiểu là những nhóm người cùng sinh sống với nhau trên một khu vực địa lý nhất định trong lãnh thổ, mang những đặc điểm riêng biệt như về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán… Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạn chế. Ngoài ra cộng đồng các dân tộc thiểu số ít người thường khó hòa nhập do họ sử dụng ngôn ngữ riêng, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phong tục tập quán cổ hủ. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam1.
Ngoài ra còn có một số khái niệm liên quan như: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia; “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân 1 Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về Công tác dân tộc 7 tộc có số dân dưới 10. Mỗi dân tộc đều mang trong mình những đặc trưng riêng về truyền thống, văn hóa được tạo dựng bởi bề dày lịch sử dân tộc. Ở Việt Nam cũng vậy, 54 dân tộc mang 54 màu sắc văn hóa khác nhau, tạo lên sự phong phú, đa dạng. Ở nước ta thì chỉ có dân tộc Kinh được coi là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ dân số lớn trong tổng số dân số cả nước, còn 53 dân tộc còn lại đều được xếp vào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên hiện nay số dân của một số dân tộc ngày càng tăng lên như Tày, Thái, Mường….đồng thời địa bàn sinh sống đã tản ra, trình độ văn hóa, kinh tế phát triển mạnh. Do đặc điểm của cộng đồng dân tộc thiểu số mà trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chú trọng đến việc phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục tại địa bàn các khu vực có dân tộc thiểu số sinh sống, góp phần tạo lập sự bình đẳng, phát triển đồng đều trên cả nước. Khái niệm và đặc điểm bảo hiểm y tế với người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm bảo hiểm y tế Con người ai cũng muốn có cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc nhưng rủi ro bệnh tật luôn có khả năng tác động đến mọi thành viên trong xã hội, ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh cho đến người già, ở mọi môi trường và mọi điều kiện sống khác nhau.
Các chi phí khám chữa bệnh là không xác định trước vì nó mang tính bất thường, đột xuất vì thế dù lớn hay nhỏ thì đều gây ảnh hưởng, khó khăn đến tài chính của người bị rủi ro, gia đình họ, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Không những thế, những rủi ro về sức khỏe mà lặp lại do tái phát hoặc nặng hơn do biến chứng thì vừa làm suy giảm sức khỏe, khả năng lao động của người gặp rủi ro, kéo dài thời gian họ phải gián đoạn, không tham gia quan hệ lao động, làm cho khó khăn nặng nề hơn, thậm chí vượt quá khả năng chi trả. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng cao và nhu cầu chăm sóc về y tế cũng cao hơn. Các loại bệnh mới, nguy hiểm hơn cũng xuất hiện ngày càng nhiều, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người.
Con người cần phải có sự dự trữ, đề phòng khi rủi ro xảy ra, đó là hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm. Sau đó, con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá 2 Khoản 3, 4, 5 Điều 3 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về Công tác dân tộc 8 nhân. Phát sinh nhu cầu huy động các thành viên trong xã hội đóng góp nhằm hỗ trợ về y tế cho người bị rủi ro và gia đình họ, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Cuối thế kỷ XIX, BHYT ra đời nhằm giúp đỡ những người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về sức khỏe có điều kiện ổn định đời sống, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2005, danh từ “bảo hiểm” có nghĩa là “sự bảo đảm của cơ quan bảo hiểm chi cho đối tượng tham gia bảo hiểm (có đóng một khoản tiền nhất định theo định kì) một khoản tiền theo quy định khi hết tuổi lao động hoặc khi có tai nạn, rủi ro xảy đến”. Định nghĩa chung nhất về bảo hiểm: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba”3. BHYT là một loại bảo hiểm trong lĩnh vực y tế, bảo vệ và phục hồi sức khỏe con người. Theo tính chất và phạm vi mà BHYT ở mỗi quốc gia có thể có tên gọi khác nhau là “bảo hiểm sức khỏe” (có thể gồm cả phòng bệnh và chữa bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng hoặc cả ba nội dung này) hay “bảo hiểm y tế” (thường chỉ gồm hoạt động chữa bệnh) nhưng đều có ý nghĩa là nếu người được bảo hiểm gặp rủi ro về sức khỏe thì sẽ được cơ quan BHYT chi trả bồi thường.
Trên thực tế, có một bộ phận BHYT mang tính chất của BHXH, an sinh xã hội quốc gia và một bộ phận cũng liên quan đến chăm sóc sức khỏe con người nhưng mang tính chất kinh doanh. BHYT mang tính chất của BHXH là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Hoạt động của BHYT thực sự trở thành một trong những nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội. Chính vì vai trò quan trọng của BHYT như vậy cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHYT luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHYT.
Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHYT mang tính chất của BHXH và BHYT mang tính chất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong Tuyên bố Alma- Ata năm 1978 về sức khỏe cho mọi người, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra quan niệm “Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con người”. 3 Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình Bảo hiểm, NXK Thống kê, tr 12. 9 Dưới góc độ xã hội, BHYT là một hình thức tương trợ cộng đồng, thể hiện sự đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về quan điểm chung.
Trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao, nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Các thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập để tạo ra quỹ chung, không vì mục đích lợi nhuận nhằm chăm sóc về y tế cho chính mình và các thành viên khác trong xã hội. Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp.
Tính xã hội của BHYT cũng được thể hiện ở đối tượng tham gia BHYT và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách BHYT. Đối tượng tham gia BHYT bao gồm tất cả thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, trình độ học vấn, thu nhập… Nhà nước không chỉ giữ vai trò là người tổ chức, quản lý mà còn giữ vai trò bảo trợ thực hiện BHYT. Nhà nước dành một phần trong ngân sách quốc gia để hỗ trợ cho các hoạt động y tế và trợ giúp cho các thành viên yếu thế trong xã hội được tham gia BHYT. Dưới góc độ kinh tế, BHYT trước hết là sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy do bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được.
Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài chính dự tính một cách thoả đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện. BHYT là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động sự đóng góp của những người tham gia BHYT, hợp nhất các nguồn lực để hình thành quỹ chung nhằm đối phó với rủi ro sức khỏe của mỗi người tham gia và cộng đồng. Quá trình thực hiện BHYT cũng là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ chung này.