Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc Con người sống trong xã hội luôn phấn đấu vì cuộc sống yên bình, hạnh phúc, mặc dù không mong muốn nhưng con người không thể tránh khỏi những rủi ro bất ngờ xảy ra như ốm đau, bệnh tật, tai nạn. Những trường hợp đó xảy ra đều ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của bản thân cũng như người thân, gia đình của họ.
Thực tế đó đòi hỏi con người cần phải có những biện pháp phòng chống và khắc phục rủi ro, bảo hiểm xã hội được ra đời xuất phát từ nhu cầu đó. Bảo hiểm xã hội (BHXH) có mầm mống từ hàng trăm năm trước đây khi nền kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển. Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX, dưới thời Thủ tướng Bismarck của nước Đức cổ, tính xã hội của BHXH đã được chú ý đến. Vào năm 1850, chế độ bảo hiểm đầu tiên được thực hiện là chế độ ốm đau, nhằm san sẻ rủi ro giữa những người lao động khi một số người trong số họ không may bị ốm đau phải tạm thời nghỉ việc.
Kể từ đó các xu hướng phát triển của BHXH được mở rộng dần và ý tưởng bảo vệ người lao động nghèo, thu nhập thấp cũng được hình thành. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX, BHXH đã phát triển mạnh mẽ ở các nước công nghiệp của châu Âu và sau chiến tranh thế giới lần thứ II đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới với hình thức và mô hình phong phú1. Ngày nay, đa phần các nước trên thế giới coi bảo hiểm xã hội như một phần quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội. 1 Mạc Văn Tiến, “Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội”, tại địa chỉ: http://bhxhbqp.vn/?act=nctd_detail&idnctd=149&date=1385139600, ngày truy cập 16/4/2017.
8 BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau nên hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về BHXH. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì BHXH là: “sự bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động”2. Theo Từ điển Luật học, BHXH là chế định pháp luật lao động, gồm các quy phạm pháp luật quy định về chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác3. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp.
Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn của xã hội”4. Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Như vậy, qua việc tìm hiểu các quan điểm trên, có thể hiểu BHXH như sau: 2 Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1999), NXB. Văn hóa – Thông tin, tr.
3 Viện khoa học pháp lý (2006), NXB. Từ điển Bách khoa + Tư pháp, tr. 4 BHXH tỉnh Ninh Thuận, “Khái quát về sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội”, tại địa chỉ: http://bhxhninhthuan.aspx?c=5&sc=1, ngày truy cập 16/4/2017. 9 - Là khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập, bằng quỹ tài chính bởi sự đóng góp của các chủ thể tham gia và có sự góp sức từ phía Nhà nước.
- Chi trả khi người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập, chỉ trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. - Đối tượng của BHXH: Thu nhập bị biến động làm giảm hoặc mất của người lao động tham gia BHXH - Lấy số đông bù số ít, thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập. BHXH gồm hai hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bắt buộc theo Khoản 2, Điều 3, Luật BHXH 2014 là “loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”.
Người lao động (NLĐ) phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH, Người sử dụng lao động (NSDLĐ) cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ làm việc cho mình và tất cả các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật quy định. Nhà nước thực hiện trong khuôn khổ pháp luật với những quy định về đóng góp mang tính bắt buộc nhằm đảm bảo chắc chắn, ổn định và bền vững cho quỹ BHXH bắt buộc. Loại hình BHXH bắt buộc được thực hiện tại các nước trên thế giới đều mang mục đích là bảo đảm quyền lợi cho NLĐ và hỗ trợ về vật chất cho NLĐ khi họ gặp phải rủi ro, biến cố hoặc hết tuổi lao động. Từ đó ta có khái niệm: “BHXH bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia của người lao động và người sử dụng lao động”.
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là cả NLĐ và NSDLĐ và cùng có nghĩa vụ phải đóng góp vào quỹ BHXH, họ buộc phải tham gia BHXH bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp luật quy định. Tính bắt buộc làm nên đặc trưng của loại hình BHXH này. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc Đối với Việt Nam, với từng giai đoạn phát triển, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về BHXH, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về BHXH. Cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về An sinh xã hội (ASXH) tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH.
Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH, dự kiến đến 2030 sẽ có khoảng 60% lực lượng lao động tham gia BHXH, trong đó lao động khu vực phi chính thức khoảng 5%; 45% số người lao động tham gia BHTN, 60% số người cao tuổi được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội.Với những đặc trưng riêng của mình, BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng có vai trò quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội thông qua bảo vệ lực lượng lao động - lực lượng chính cho nền sản xuất, xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Vai trò của BHXH bắt buộc được thể hiện trực tiếp và rõ nhất đối với NLĐ, NSDLĐ, đối với Nhà nước và sự ổn định xã hội. * Đối với người lao động BHXH bắt buộc thể hiện trách nhiệm của NLĐ đối với chính bản thân họ, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu an toàn kinh tế cho NLĐ và thân nhân, gia đình của NLĐ. Là một trong những chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, BHXH bắt buộc trợ giúp cho cá nhân những NLĐ gặp phải tai nạn, rủi ro bằng cách thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở họ phải đóng góp vào quỹ BHXH, tạo điều kiện thuận lợi giúp họ ổn định lại cuộc sống, nhanh chóng có điều kiện phục hồi sức khỏe để có thể tiếp tục tham gia quá trình lao động, cống hiến cho sự phát triển chung của xã hội.
BHXH bắt buộc còn bù đắp, hỗ trợ cho thân nhân của NLĐ trong những trường hợp nhất định làm giảm bớt gánh nặng tài chính cho thân nhân và gia đình của họ. Nhờ đó, các rủi ro trong lao động sản xuất và trong đời sống của NLĐ được khống chế, khắc 11 phục hậu quả ở mức độ cần thiết, NLĐ giảm bớt lo lắng, yên tâm, tự tin hơn trong cuộc sống. BHXH bắt buộc là nguồn hỗ trợ vật chất và nguồn động viên tinh thần to lớn đối với cuộc sống của NLĐ và gia đình của họ. * Đối với người sử dụng lao động BHXH bắt buộc thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ - đối tượng mà NSDLĐ khai thác lợi ích bằng sức lao động của họ.
Đóng góp vào quỹ BHXH trở thành trách nhiệm của NSDLĐ để bảo vệ NLĐ. Từ việc tham gia BHXH, NSDLĐ cũng sẽ giảm bớt được gánh nặng tài chính khi phải trực tiếp bù đắp cho NLĐ gặp biến cố, rủi ro trong lao động. Sự chia sẻ này là cơ sở giúp cho NSDLĐ có thể ổn định, xây dựng chiến lược và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. BHXH bắt buộc giúp người sử dụng lao động giữ vững ổn định và hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách phân phối chi phí hợp lý cho NLĐ, giúp lực lượng lao động ở mỗi đơn vị cũng ổn định theo.
NSDLĐ từ đó sẽ có trách nhiệm hơn với NLĐ. * Đối với Nhà nước và xã hội Thông qua các quy định về BHXH đối với NLĐ và NSDLĐ, Nhà nước thực hiện việc phân phối thu nhập, điều tiết quyền và lợi ích của các bên, đảm bảo sự công bằng trong việc giải quyết hậu quả của rủi ro, bất trắc xảy ra.