lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu Chƣơng 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu Chƣơng 3: Hiện trạng thực thi và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THÂN TÀU, BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ TÀU 1.1 SƠ LƢỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI Pháp luật về bảo hiểm nói chung và pháp luật về bảo hiểm hàng hải nói riêng có lịch sử ra đời từ rất sớm. Ngay từ khi sinh ra con ngƣời đó phải chống chọi với sự bấp bờnh, hiểm nguy đe doạ từ nhiều phía nhƣ lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần, súc vật hoặc chiến tranh gây ra, v.… Do vậy, mà nhu cầu về phũng vệ nhằm đảm bảo an toàn cho tính mạng, tài sản của mỡnh cũng nhƣ của ngƣời thân và dũng tộc là rất lớn. Ngay từ thời tiền sử, các nhà khảo cổ đó tỡm đƣợc những vết tích chứng minh sự tồn tại của các công ty cứu hộ tƣơng hỗ đối với các thợ tạc đá Ai cập Cổ Đại từ 4500 năm trƣớc công nguyên. Những ngƣời Babilon đó đƣa ra những quy tắc trong việc tổ chức phƣơng tiện vận tải bằng xe kéo và đặc biệt đó quy định phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị cƣớp cho các thƣơng gia cùng gánh chịu.
Vào thế kỷ thứ V trƣớc công nguyên Periclex đó tổ chức một dạng hội đoàn trong đó có hoạt động trợ giúp cho các thành viên hoặc gia đỡnh của họ trong cỏc tập đoàn lính có cùng nhu cầu. Ngƣời ta đó giữ quy chế của đoàn tang lễ Lanuvium là phải tổ chức lễ tang cho tất cả các thành viên đó cú tiền đóng góp cho hội từ khi họ cũn sống. Nhƣ vậy, các thành viên này đó thực sự ký một bảo hiểm tang lễ dựa trờn bản hợp đồng nhân thọ toàn phần. Vào thời Trung Cổ, ở Châu Âu, các thợ thuyền, công nhân, nhà buôn, kỹ nghệ gia, phƣờng buôn đó biết tổ chức đoàn kết các thành viên của mỡnh để khắc phục những tổn thất khi tai nạn (accident) lao động, hoả hoạn xảy ra hoặc khi mất khả năng lao động (incapacite) do ốm đau hoặc già yếu.
Các tổ chức này đó gúp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN phần vào sự an toàn tài chớnh cho cỏc thành viờn của mỡnh nhƣng hoạt động nghiêng về cỏc nguyờn tắc dựa trờn tỡnh thƣơng và phân chia các khoản trợ cấp thiết yếu dựa vào quỹ cứu hộ. Đây không phải là hỡnh thức bảo hiểm vỡ cũn thiếu hai yếu tố quan trọng là hợp đồng (contract) và các khoản đóng góp (cotisation) cho ngƣời bảo hiểm (Assurancer) trƣớc khi xảy ra rủi ro. Cũng vào thời Trung Cổ, cùng với các cuộc phiêu lƣu buôn bán lớn bằng đƣờng biển với đầy những hiểm nguy của biển cả đũi hỏi những ngƣời chủ lái buôn phải tỡm một cơ chế đảm bảo an toàn hoặc khắc phục hậu quả nếu có thiệt hại xảy ra cho chuyến đi của mỡnh. Do vậy, mà cho vay trong trƣờng hợp phiêu lƣu lớn đó kộo theo sự ra đời của bảo hiểm hàng hải.
Sự ra đời của bảo hiểm hàng hải là sớm nhất so với các loại hỡnh bảo hiểm khỏc. Dạng cho vay này đƣợc những ngƣời Hy Lạp và La Mó ỏp dụng cơ chế nhƣ sau: - Đối với buôn bán bằng đƣờng biển, các nhà buôn cần nhiều vốn. Họ yêu cầu các chủ ngân hàng cho họ vay số tiền cần thiết. - Nếu tàu bị đắm, nhà buôn không phải hoàn trả cho chủ ngân hàng.
- Trái lại, nếu việc buôn bán thành công, ngƣời cho vay không những đƣợc hoàn trả số vốn và cũn đƣợc hƣởng thêm một khoản chia lời rất lớn, bù trừ cho rủi ro đó phải cam kết chịu. Khoản lói cú thể lờn đến 40%, thậm chí là 50%. Vào thế kỷ thứ XII, cùng với sự phục hồi trao đổi thƣơng mại “Cho vay trong trƣờng hợp mạo hiểm lớn” rất phát triển, kéo theo sự lạm dụng về lói suất. Thông qua Sắc lệnh năm 1234 Giáo Hoàng Gregoire IX đó nghiờm cấm việc cho vay nặng lói (lói suất cắt cổ) và nhƣ vậy loại hỡnh cho vay này cũng bị cấm.
Do đó, cần phải có một cơ chế giúp cho các chủ ngân hàng chắc chắn lấy lại đƣợc số tiền đó cho vay. Thế là, dần dần hỡnh thành một hệ thống kộo theo sự ra đời của bảo hiểm hàng hải. Các chủ ngân hàng hay các nhóm nhà buôn chấp nhận đƣợc bảo đảm giá trị của con tàu và hàng hoá trong trƣờng hợp bị tổn thất, nhờ vào một khoản tiền ấn định trả trƣớc. Các quy tắc chủ yếu của bảo hiểm hiện đại đó đƣợc hỡnh thành và phỏt triển chớnh tại cỏc Cảng ở Địa Trung Hải – Genes, Venise, Marseille, Barcelone, rồi các cảng ở Đại Tây Dƣơng, Porto, Bordeaux, Bruges, Rouen.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN Bản hợp đồng cổ xƣa nhất mà ngƣời ta tỡm thấy đƣợc ký kết tại Cảng Gờnes năm 1347. Nếu ngƣời ta không cũn những hợp đồng cổ hơn, chỉ là vỡ hợp đồng (police) đó bị huỷ ngay sau khi con thuyền cập bến, cú nghĩa là bảo đảm (Garantie) đó kết thỳc. Cũng chính tại Gênes năm 1424, công ty bảo hiểm hàng hải (Assurances Maritimes) đầu tiên ra đời. Trong cuốn hợp đồng và các hợp đồng cho mạo hiểm lớn xuất bản tại Macxây năm 1783, Enerigon đó chỉ ra rằng: “Hợp đồng bảo hiểm đó len lỏi vào thƣơng mại qua chớnh bản chất của hàng hoỏ và qua lũng mong muốn của con ngƣời muốn bảo vệ của cải vốn thay đổi thất thƣờng”.
Từ thế kỷ XIII, các văn bản luật liên quan đến buôn bán đƣờng biển và bảo hiểm hàng hải liên tục ra đời 2; tr. Tại Việt Nam, tuy lịch sử pháp luật hàng hải không đƣợc ra đời và phát triển với bề dày truyền thống nhƣ của các nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, là quốc gia ven biển với truyền thuyết “50 ngƣời con theo cha lên rừng, 50 ngƣời con theo mẹ xuống biển”, nhân dân Việt Nam vốn từ lâu đó rất gần gũi và thụng thạo nghề đi biển, giao lƣu buôn bán với bên ngoài bằng đƣờng biển. Do vậy, từ lâu Việt Nam cũng đó cú nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ xó hội phỏt sinh trong lĩnh vực biển, hàng hải, điển hỡnh nhƣ: Sắc luật số 029 – TT – SLG ngày 20/01/1972 của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu đó ban hành Bộ luật thƣơng mại, trong đó có riêng một quyển, quyển số IV về thƣơng mại hàng hải với 7 chƣơng, 315 điều, đặc biệt đó dành một số lƣợng lớn các điều khoản (64 điều) quy định về vấn đề bảo hiểm hàng hải.
Sau ngày nƣớc nhà thống nhất (năm 1975), đặc biệt là sau khi có Đại hội VI của Đảng năm 1986 về thực hiện đƣờng lối đổi mới mở cửa thỡ hàng loạt cỏc văn bản pháp luật về hàng hải nói chung, bảo hiểm hàng hải nói riêng lần lƣợt ra đời, có thể phải kể đến nhƣ: Quyết định số 581A TC/QĐ/TCNH ngày 1 tháng 7 năm 1996 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế tạm thời về các quy định chung của hợp đồng bảo hiểm; nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, đƣợc sửa đổi, bổ sung bởi nghị định số 74/CP ngày 14/6/1997 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm; v. nhƣng tập trung nhất và thể hiện sự phát triển mạnh nhất của pháp luật Việt Nam về 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN bảo hiểm hàng hải đó vẫn là BLHH Việt Nam năm 1990 (vẫn đang còn hiệu lực) và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác về bảo hiểm nhƣ: Luật KDBH; các Quy tắc BHTT, BHTNDSCT, điều khoản rủi ro chiến tranh của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam 2001, của Bảo Minh 1999 v. Nhƣ vậy, bảo hiểm hàng hải là loại hỡnh bảo hiểm hiện đại đầu tiên ra đời. Ngày nay pháp luật về bảo hiểm hàng hải quốc tế nói chung và pháp luật về bảo hiểm hàng hải của Việt Nam nói riêng cũng đang khẳng định vai trũ, và vị trớ ngụi vị số một của mỡnh trong việc duy trỡ hoạt động ổn định của các DNBH, tạo niềm tin và là chỗ dựa vững chắc cho các đội tàu biển, qua đó thúc đẩy hoạt động giao lƣu thƣơng mại hàng hải quốc tế phát triển.2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI 1.1 Bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải Trong cuộc sống để đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của con ngƣời chúng ta có nhiều biện pháp nhƣ: tránh rủi ro (risk avoidance); ngăn ngừa, hạn chế rủi ro (risk prevention); tự khắc phục rủi ro (risk assumption); chuyển nhƣợng rủi ro (risk transfer)… trong số các biện pháp đó thỡ chuyển nhƣợng rủi ro tỏ ra có ƣu thế hơn cả.
Do đó, nó đó ra đời và phát triển mạnh mẽ cho đến tận ngày nay, đó là biện pháp bảo hiểm. Vậy chúng ta có thể định nghĩa bảo hiểm nhƣ sau: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đó thoả thuận gõy ra, với điều kiện người được bảo hiểm đó thuờ bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm” 3; tr. Theo TS Kinh tế E.Cụlụnin thỡ: “Bảo hiểm là phƣơng pháp chia nhỏ tổn thất của một ngƣời hay một số ít ngƣời cho nhiều ngƣời cùng có khả năng gặp những tổn thất nhƣ vậy, bằng cách thu của họ một số tiền nào đấy tuỳ theo mức độ rủi ro (xác suất tổn thất) mà họ có thể gặp để lập ra một quỹ chung và khi có thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ thỡ từ quỹ chung đó bồi thƣờng cho họ những tổn thất mà họ phải chịu.