MỞ ĐẦU “Bảo hiểm sinh học” là hình thức lƣu trữ tế bào gốc của trẻ sơ sinh nhằm giúp bé chữa trị những bệnh hiểm nghèo (nếu có) trong quá trình trƣởng thành của trẻ. Lƣu giữ tế bào gốc là một biện pháp bảo đảm tƣơng lai sức khoẻ cho bé và gia đình. Không ai biết trƣớc một em bé từ khi sinh ra, lớn lên có thể mắc bệnh gì, đo đó, việc lƣu giữ lâu dài tế bào gốc là một biện pháp bảo đảm sức khỏe cho đứa trẻ và gia đình trong hiện tại và tƣơng lai nhƣ một hình thức “bảo hiểm sinh học”. Nếu các tế bào gốc của đứa bé đƣợc cất giữ thì đây sẽ là nguồn tế bào phù hợp nhất để chữa bệnh cho bé.
Nếu gia đình của đứa trẻ có ngƣời mắc bệnh cần tế bào gốc để điều trị thì khả năng phù hợp giữa ngƣời bệnh và mẫu tế bào của đứa trẻ sẽ cao hơn so với mẫu tế bào của ngƣời không cùng huyết thống. Vì vậy, việc lƣu giữ tế bào gốc khi em bé vừa chào đời là cơ hội duy nhất, có thể cứu sống một ngƣời khi cần đến. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Con ngƣời là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển của gia đình và xã hội. Do đó việc bảo vệ sự phát triển an toàn và toàn diện của một con ngƣời về mặt sinh học là một nhu cầu cần thiết.
Không ai biết trƣớc đƣợc một em bé từ khi sinh ra đến khi trƣởng thành có thể mắc bệnh gì. Vì vậy, việc lƣu giữ tế bào gốc là một biện pháp bảo đảm sức khỏe cho chính bản thân em bé và gia đình trong hiện tại và tƣơng lai nhƣ một hình thức “bảo hiểm sinh học”. 2 Nếu các tế bào gốc từ dây rốn của đứa trẻ đƣợc cất giữ, sau này khi cần tế bào gốc để chữa bệnh thì đây sẽ là các tế bào gốc phù hợp nhất, vì chúng là các tế bào của chính cơ thể nên khi dùng để điều trị thì cơ thể sẽ không sinh ra phản ứng miễn dịch thải bỏ các tế bào này. Kết quả là nếu đƣợc điều trị bằng tế bào gốc của chính mình thì đứa trẻ sẽ không phải dùng các thuốc ức chế miễn dịch để duy trì tế bào ghép.
Hơn thế nữa nếu gia đình có ngƣời mắc bệnh cần tế bào gốc để điều trị thì khả năng phù hợp giữa ngƣời bị bệnh và mẫu tế bào của đứa trẻ sẽ cao hơn so với mẫu tế bào lấy của ngƣời không cùng huyết thống. Có ba nguồn tế bào gốc: tủy xƣơng, máu ngoại vi và máu cuống dây rốn. Tuy nhiên, do vấn đề tế bào gốc tủy xƣơng và máu ngoại vi khá phức tạp, giá thành cao, lại không ghép đƣợc trên ngƣời khác gien nên đƣợc ƣu tiên máu cuống rốn. Hiện nay, việc lƣu giữ tế bào gốc màng cuống rốn, máu cuống rốn cho con vẫn là một việc vô cùng mới mẻ tại Việt Nam.
Tuy nhiên gần đây, rất nhiều ông bố bà mẹ đã tìm hiểu và lựa chọn dịch vụ này. Lƣu giữ tế bào gốc cho con tức là cha mẹ đã lƣu giữ cho con một trong những tài sản quý giá - nó đƣợc xem là bảo hiểm sinh học cho đứa trẻ. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Xác định và ƣớc lƣợng những yếu tố chủ yếu tác động đến quyết định tham gia “bảo hiểm sinh học” của những ông bố bà mẹ ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất những gợi ý giải pháp triển khai dịch vụ lƣu trữ tế bào gốc dây rốn nhằm hƣớng đến giải pháp gia tăng công tác bảo vệ sức khỏe dịch vụ y tế ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu sự hiểu biết của các ông bố bà mẹ kiến thức lƣu trữ tế bào gốc nhằm giúp họ nhận thức rõ hơn về giá trị của “bảo hiểm sinh học” 3 Phân tích ƣớc lƣợng giá trị mức sẵn lòng chi trả cho lợi ích của “bảo hiểm sinh học” Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định tham gia “bảo hiểm sinh học” của ông bố bà mẹ tại TP. Hồ Chí Minh Đƣa ra một số kiến nghị đối với các ngân hàng tế bào gốc tại TP. Hồ Chí Minh nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Đề tài sẽ trả lời những câu hỏi sau: Đặc điểm tâm lý của khách hàng ảnh hƣởng đến việc tham gia “bảo hiểm sinh học” nhƣ thế nào? Các yếu tố nhân khẩu, kiến thức về “bảo hiểm sinh học”, và các sự kiện trong cuộc sống có ảnh hƣởng đến việc ra quyết định tham gia “bảo hiểm sinh học” hay không? Những yếu tố nào thực sự ảnh hƣởng đến quyết định tham gia “bảo hiểm sinh học” của các ông bố bà mẹ? Ngƣời dân sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho lợi ích của dịch vụ “bảo hiểm sinh học”? ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu Các cặp vợ chồng, bà mẹ đang mang thai (kể cả mẹ đơn thân) và ngƣời trong độ tuổi từ 18 – 45 tuổi sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: *Về nội dung: nghiên cứu mức giá sẵn lòng trả cho dịch vụ lƣu trữ tế bào gốc máu cuống rốn ở TP. Hồ Chí Minh. *Về không gian: Ngƣời trong độ tuổi 18 – 45 cƣ trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. * Về thời gian: Số liệu đƣợc thu thập phục vụ cho nghiên cứu luận văn 4 đƣợc tác giả và điều dƣỡng một số phòng khám thai khu vực TP.
Hồ CHí Minh thu thập từ tháng 06 năm 2017 đến tháng 06 năm 2018. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp với các thai phụ và thân nhân đến khám tại phòng khám. Các phỏng vấn viên đƣợc huấn luyện trƣớc về thu thập số liệu, sẽ trực tiếp thực hiện phỏng vấn bệnh nhân sau đó ghi nhận thông tin nghiên cứu theo mẫu câu hỏi. Sử dụng phƣơng pháp hỗn hợp: Phỏng vấn định tính và định lƣợng trong mô hình CVM để ƣớc lƣợng giá trị sẵn lòng trả của đối tƣợng nghiên cứu.
Các thông tin nghiên cứu đảm bảo tính khách quan và bảo mật thông tin ngƣời đƣợc phỏng vấn. Các thông tin công bố đã đƣợc sự cho phép bởi ngƣời cung cấp thông tin. *Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp thống kê mô tả, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp định lƣợng và tổng hợpcác nghiên cứu có liên quan. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Chƣơng 1:Giới thiệu về dịch vụ.
Chƣơng 2: Trình bày cơ sở lý thuyết hành vi ngƣời tiêu dùng trong quyết định mua bảo hiểm, phƣơng pháp CVM. Chƣơng 3: Trình bày thiết kế mô hình phân tích và nghiên cứu giá sẵn lòng trả cho dịch vụ lƣu trữ tế bào gốc máu cuốn rốn. Chƣơng 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và khảo sát. 5 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ DỊCH VỤ 1.
Khái niệm về tế bào gốc Tế bào gốc là tế bào còn non trẻ, có khả năng tự thay mới mình và biệt hoá thành các tế bào chuyên biệt khác để tạo nên các mô, cơ quan khác nhau của cơ thể và thay thế cho các tế bào ở các mô, cơ quan bị mất đi do già và chết tự nhiên hoặc bị tổn thƣơng vì các nguyên nhân khác nhau. Quá trình liền vết thƣơng và phục hồi các thoái hoá/tổn thƣơng của các mô, cơ quan trong cơ thể có nhiều cơ chế phức tạp nhƣng kết quả cuối cùng là tái lập lại các mô đã bị thoái hoá/tổn thƣơng. Chính các tế bào gốc là lực lƣợng dự trữ đƣợc huy động để tái tạo các tế bào bị tổn thƣơng đó. Vì thế điều trị bằng tế bào gốc chính là để bổ sung nguồn tế bào non trẻ, có thể tạo ra các loại tế bào mới, mô mới bổ sung hoặc thay thế cho các tế bào và mô cơ quan bị tổn thƣơng hay mất chức năng 1.
Phân loại tế bào gốc Các tế bào gốc có thể lấy ra từ phôi, thai, dịch ối, dây rốn, nhau thai, các mô khác nhau của ngƣời sau khi sinh cho đến ngƣời trƣởng thành. Dựa vào nguồn mô lấy ra để phân lập so với giai đoạn phát triển phôi thai và cơ thể ngƣời ta chia các tế bào gốc thành các loại sau: Tế bào gốc phôi (embryonic stem cells): là các tế bào gốc đƣợc lấy từ khối tế bào bên trong của phôi nang 4-7 ngày tuổi. Đây là các tế bào chƣa biệt hoá, có tính vạn tiềm năng, có thể phát triển thành bất kỳ loại tế bào nào của cơ thể. 6 Tế bào gốc thai (foetal stem cells): là các tế bào gốc đƣợc phân lập từ tổ chức thai sau nạo phá thai.
chúng có tiềm năng phát triển thành hầu hết các loại tế bào khác nhau của các mô và cơ quan. Tế bào gốc nhũ nhi (infant stem cells): là các tế bào phân lập từ dây rốn, máu dây rốn và từ nhau thai. Tế bào gốc trƣởng thành (adult stem cells): là các tế bào chƣa biệt hoá, đƣợc tìm thấy số lƣợng ít trong các mô của ngƣời trƣởng thành (tủy xƣơng, máu ngoại vi, mô não, mô da, mô cơ. Tế bào gốc giống tế bào gốc phôi (embryonic like stem cell) hay tế bào gốc vạn tiềm năng cảm ứng (induced plutipotent stem cell) là những tế bào đƣợc tạo ra bằng cách cảm ứng các tế bào đã biệt hoá của cơ thể trở lại trạng thái giống nhƣ tế bào gốc phôi.
Trong số các nguồn cung cấp tế bào gốc kể trên, việc lấy tế bào gốc từ phôi, thai, dịch ối trƣớc sinh có liên quan đến hủy phôi, nạo phá thai, can thiệp chọc dịch ối trƣớc sinh là những việc làm có liên quan đến các lo ngại về đạo đức và ảnh hƣởng bất lợi cho thai nhi. Việc lấy tế bào gốc từ các mô ở ngƣời trƣởng thành nhƣ tủy xƣơng, máu ngoại vi, nang lông… có những khó khăn về kỹ thuật và hạn chế về số lƣợng tế bào cũng nhƣ chất lƣợng tế bào gốc vì chúng tƣơng đối “già” hơn so với các tế bào gốc lấy từ phôi và thai. Khoa học đã chứng minh tế bào gốc có thể thu đƣợc từ rất nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên dây rốn trẻ sơ sinh là nguồn cung cấp tế bào gốc lý tƣởng vì có khả năng cung cấp nguồn tế bào gốc trẻ, dồi dào, đa dạng, có khả năng phù hợp miễn dịch cao, dùng để chữa trị cho chính bản thân em bé và các ngƣời thân trong gia đình có chỉ số sinh học phù hợp với bé. Lƣu giữ tế bào gốc dây rốn khi em bé vừa chào đời là cơ hội duy nhất, có thể cứu sống một ngƣời khi cần đến.