Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí 1. Khái niệm bảo hiểm hưu trí Con người sinh ra vốn đã có các nhu về cuộc sống như (ăn, ở, mặc…) và gia đình là nơi cung cấp chính các nhu cầu đó. Cùng với quá trình trưởng thành của bản thân, các nhu cầu thiết yếu đảm bảo cuộc sống ngày càng lớn hơn đòi hỏi con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống mình, giúp đỡ gia đình và góp phần phát triển xã hội.
Khi già yếu, hết tuổi lao động (không còn tham gia quan hệ lao động nữa), thu nhập bị giảm sút nhưng những nhu cầu thiết yếu cần thiết cho con người không vì thế mất đi, trái lại, có thể còn tăng lên, thậm chí xuất hiện thêm nhu cầu mới như chi phí khám chữa bệnh, chi phí phục vụ và lương hưu chính là thu nhập chính của họ trong lúc này. Để được hưởng lương khi về hưu chính là mục đích, động lực cơ bản để NLĐ tham gia quan hệ BHXH, chính vì vậy mà trong lịch sử phát triển của BHXH, BHHT là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất. Trước những rủi ro của cuộc sống (già yếu, ốm đau, tai nạn lao động) đã buộc NLĐ tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội công đoàn…) đồng thời họ đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp đảm bảo cuộc sống cho họ khi gặp những rủi ro đó. Năm 1850, một số bang của nước Đức lần đầu tiên thành lập quỹ hỗ trợ nỗi đau.
Năm 1883, họ tiếp tục ban hành Luật BHYT và bảo hiểm tai nạn lao động sau đó là đạo luật về hưu trí với sự đóng góp của cả ba bên (NLĐ, chủ sử dụng lao động, nhà nước) nhằm bảo vệ NLĐ trong các trường hợp rủi ro. Kinh nghiệm về BHXH của Đức sau đó được lan dần sang nhiều nước khác trên thế giới. 9 Tháng 6 năm 1952, ILO đã thông qua Công ước số 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó đưa ra hệ thống các chế độ BHXH bao gồm 09 chế độ: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già (hưu bổng), trợ cấp TNLĐ, BNN, trợ cấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất và khuyến nghị các nước thành viên ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có một trong 5 chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp TNLĐ-BNN, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất. Điều này chứng tỏ, BHHT luôn được ILO, Chính phủ các nước cũng như NLĐ hết sức quan tâm.
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngay khi dành được chính quyền cũng đã quan tâm đến các chế độ BHXH, trong đó có chế độ hưu trí thể hiện trong nhiều văn bản khác nhau. Tuy nhiên chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng thực sự có những thay đổi căn bản khi Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động (có hiệu lực từ 01/01/1995). Trên cơ sở quy định của Bộ luật Lao động, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995, đồng thời có điều chỉnh các quy định về chế độ chính sách BHXH trong đó có chế độ hưu trí cho phù hợp. Ngày 29/6/2006, Quốc hội thông qua Luật BHXH tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, bổ sung các quy định mới phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ASXH và hội nhập quốc tế.
Tiếp đến, tại kỳ họp thứ 8, ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật BHXH 2014. Việc sửa đổi Luật BHXH đã cơ bản đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ASXH phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới, khắc phục những hạn chế trong chính sách, pháp luật BHXH hiện hành và tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện, tiến tới BHXH cho mọi NLĐ. Vì vậy, Luật 10 BHXH 2014 có thêm nhiều quy định mới, đặc biệt là chế độ hưu trí như về điều kiện nghỉ hưu, công thức tính lương hưu, mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Như vậy có thể thấy BHHT là bộ phận quan trọng của hệ thống ASXH, là công cụ quan trọng để Nhà nước phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
BHHT là chế độ BHXH áp dụng cho NLĐ khi họ đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Về bản chất, đây là khoản trợ cấp nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho người về hưu, thay thế cho khoản tiền lương trước đây mà họ có được khi còn đang tham gia quan hệ lao động. Từ sự phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về BHHT như sau: BHHT là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Còn chế độ BHHT là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức hưởng cho những người tham gia BHXH, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động.
Trong các chế độ BHXH, BHHT luôn được coi là "trụ cột" của BHXH. BHHT có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, BHHT là chế độ BHXH mang tính dài hạn. Ở các chế độ khác của BHXH (như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất), người tham gia bảo hiểm có thể hưởng bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm ở một thời gian nhất định và thường là khi họ đang tham gia quan hệ lao động. Đối với BHHT, người tham gia bảo hiểm lại thường chỉ hưởng bảo hiểm khi họ hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động.
Bởi vậy quá trình đóng bảo hiểm thường kéo dài từ khi thiết lập quan hệ lao động cho đến khi kết thúc quá trình làm việc, người lao động hết tuổi lao động. Hơn nữa, việc thụ hưởng BHHT về cơ bản 11 cũng mang tính chất dài hạn từ khi người lao động nghỉ hưu đến khi họ mất đi (trừ trường hợp hưởng BHHT một lần). BHHT thường phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH dài hay ngắn và tuổi thọ của người lao động. Chính vì vậy, chế độ BHHT được xem là chế độ mang tính dài hạn nằm ngoài quá trình lao động.
Thứ hai, đối tượng tham gia hưởng chế độ hưu trí rất rộng, được áp dụng cho hầu hết những người trong độ tuổi lao động nhằm thực hiện mục tiêu của ASXH. Con người ai cũng đến lúc về già. Khi đó họ cần được nghỉ ngơi và cũng cần có thu nhập để đảm bảo cuộc sống. BHHT thực chất là chế độ hướng tới mục đích này.
BHHT là chế độ trợ cấp dành cho những người hết tuổi lao động khi họ không tham gia quan hệ lao động nữa. Chính vì vậy mà hầu hết người lao động dù làm việc ở khu vực chính thức hay phi chức thức đều muốn tham gia. Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH thường rất rộng. Điều này phù hợp với mục tiêu của ASXH, đảm bảo độ bao phủ đến mọi người dân trong xã hội.
Thứ ba, BHHT là chế độ bảo hiểm chủ yếu áp dụng cho các đối tượng đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động nữa. Khác với các chế BHXH bắt buộc khác như chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thường được áp dụng đối với người lao động trong độ tuổi lao động và trong quá trình lao động; BHHT thường được áp dụng đối với người lao động khi họ không tham gia quan hệ lao động nữa. Điều này cũng phù hợp với mục đích của BHHT bởi đây là chế độ hướng đến việc đảm bảo thu nhập cho người lao động khi họ không còn khả năng lao động. Ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí Bảo hiểm hưu trí giữ vai trò rất quan trọng, là hạt nhân của hệ thống BHXH, là động lực để NLĐ yên tâm làm việc để tích lũy khi trẻ, hưởng thụ khi về già (khi họ bị suy giảm khả năng lao động, khi hết tuổi lao động, 12 không còn tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống), là mục tiêu đảm bảo ASXH của hầu hết các quốc gia.
Nếu như các chế độ BHXH khác chỉ áp dụng cho một số đối tượng lao động nhất định như chế độ TNLĐ-BNN chỉ dáp dụng cho những người bị TNLĐ-BNN; chế độ thai sản chủ yếu áp dụng đối với lao động nữ khi sinh con thì chế độ hưu trí lại được áp dụng cho hầu hết những đối tượng tham gia BHXH. Vì vậy, những thay đổi trong chế độ hưu trí luôn ảnh hưởng đến tất cả những người tham gia. Hơn nữa, phần lớn chi phí đóng góp vào BHXH đều dành cho việc chi trả chế độ hưu trí. Chính vì chiếm ví trí quan trọng nên chế độ BHHT đã góp phần cùng với các chế độ BHXH tạo nên ý nghĩa của BHXH nói chung trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý.
Ngoài ra chế độ hưu trí còn có vai trò cụ thể như sau: - Đối với người lao động Khi tham gia BHXH, người lao động phải đóng một khoản tiền trích từ lương vào quỹ BHXH. Khi người lao động hết tuổi lao động hoặc không tham gia quan hệ lao động, quỹ BHXH sẽ chi trả cho người lao động để bù đắp một phần thu nhập hỗ trợ cho người lao động bị mất thu nhập để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống. BHHT đã đảm bảo được việc thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của họ sau khi đã hoàn thành được nghĩa vụ lao động đối với xã hội. Tiền lương hưu mà họ nhận được là kết quả tích lũy trong suốt quá trình làm việc thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH.