Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn tòa án nhân dân quận nam từ liêm thành phố hà nội luận văn thạc sỹ luật

Tài liệu nghiên cứu Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn tòa án nhân, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn cao học

2023

104
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.3. Một số quyền cơ bản và đặc điểm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự

1.4.1. Ảnh hưởng về chính trị

1.4.2. Ảnh hưởng về pháp lý

1.4.3. Ảnh hưởng về kinh tế - xã hội

1.5. Quy định trong pháp luật quốc tế và một số quốc gia về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự

1.5.1. Một số quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử hình sự

1.5.2. Quy định về xét xử vụ án hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội ở một số quốc gia trên thế giới

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.1.3. Tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội ở quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.2. Thực trạng bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.3. Hạn chế về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội và nguyên nhân

2.3.1. Những hạn chế

2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Quan điểm tăng cường bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự

3.2. Việc bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự phải đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người

3.3. Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự phải đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

3.4. Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia

3.5. Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

3.5.1. Giải pháp về lập pháp

3.5.2. Các giải pháp khác

3.6. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo đảm quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự

Bảo đảm quyền của trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự là một vấn đề quan trọng trong hệ thống tư pháp. Quyền trẻ em được công nhận và bảo vệ bởi nhiều văn bản pháp luật quốc tế và trong nước. Việc bảo đảm quyền này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan tư pháp mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và cải cách hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ vị thành niên là cần thiết.

1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền của trẻ vị thành niên

Quyền của trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự bao gồm quyền được bảo vệ, quyền được tham gia vào quá trình tố tụng và quyền được bào chữa. Những quyền này được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật và công ước quốc tế. Đặc điểm của quyền trẻ vị thành niên là sự nhạy cảm và cần thiết phải được bảo vệ một cách đặc biệt do sự chưa trưởng thành về thể chất và tinh thần.

1.2. Tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền trẻ vị thành niên

Việc bảo đảm quyền trẻ vị thành niên không chỉ giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của trẻ em mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng và nhân đạo. Quyền trẻ em được bảo vệ sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đồng thời giảm thiểu tình trạng tái phạm tội trong tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo đảm quyền trẻ vị thành niên

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật bảo vệ quyền trẻ vị thành niên, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thực thi. Các vấn đề như thiếu hiểu biết về pháp luật, sự phân biệt đối xử và áp lực xã hội có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ em. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những vấn đề này.

2.1. Những hạn chế trong thực thi quyền trẻ vị thành niên

Nhiều trẻ vị thành niên không được tiếp cận đầy đủ với thông tin về quyền lợi của mình. Điều này dẫn đến việc họ không thể thực hiện các quyền của mình trong quá trình xét xử. Hơn nữa, sự thiếu hụt về nguồn lực và đào tạo cho cán bộ tư pháp cũng là một yếu tố cản trở.

2.2. Ảnh hưởng của môi trường xã hội đến quyền trẻ vị thành niên

Môi trường xã hội có thể tác động lớn đến quyền lợi của trẻ vị thành niên. Sự phân biệt đối xử, áp lực từ gia đình và cộng đồng có thể khiến trẻ em không dám lên tiếng về quyền lợi của mình. Cần có các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức để giúp trẻ em hiểu rõ hơn về quyền của mình.

III. Phương pháp bảo đảm quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự

Để bảo đảm quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự, cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Các biện pháp này bao gồm việc cải cách pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ tư pháp và xã hội, cũng như tạo ra các cơ chế giám sát hiệu quả.

3.1. Cải cách pháp luật về quyền trẻ vị thành niên

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp hơn với thực tiễn và yêu cầu bảo vệ quyền trẻ vị thành niên. Việc này bao gồm việc bổ sung các quy định cụ thể về quyền bào chữa và quyền được thông tin cho trẻ em.

3.2. Nâng cao nhận thức cho cán bộ tư pháp

Đào tạo và nâng cao nhận thức cho cán bộ tư pháp về quyền trẻ vị thành niên là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào việc giúp cán bộ hiểu rõ hơn về đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em trong quá trình xét xử.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền trẻ vị thành niên

Nghiên cứu thực tiễn về quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần khắc phục. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bảo đảm quyền trẻ vị thành niên không chỉ là trách nhiệm của hệ thống tư pháp mà còn là của toàn xã hội.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bảo đảm quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự đã có những tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em.

4.2. Các mô hình thành công trong bảo đảm quyền trẻ vị thành niên

Một số mô hình bảo đảm quyền trẻ vị thành niên đã được áp dụng thành công tại một số địa phương. Những mô hình này có thể được nhân rộng và áp dụng tại nhiều nơi khác để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền trẻ em.

V. Kết luận và tương lai của bảo đảm quyền trẻ vị thành niên

Bảo đảm quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tương lai của việc bảo vệ quyền trẻ em phụ thuộc vào sự nỗ lực của toàn xã hội trong việc cải cách pháp luật và nâng cao nhận thức về quyền trẻ em.

5.1. Tầm nhìn tương lai cho quyền trẻ vị thành niên

Tương lai của quyền trẻ vị thành niên trong xét xử hình sự cần được xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Cần có những chính sách cụ thể để đảm bảo rằng trẻ em luôn được bảo vệ và có cơ hội phát triển.

5.2. Những khuyến nghị cho cải cách pháp luật

Cần có những khuyến nghị cụ thể cho việc cải cách pháp luật nhằm bảo đảm quyền trẻ vị thành niên. Các khuyến nghị này nên tập trung vào việc nâng cao hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền lợi cho trẻ em trong hệ thống tư pháp.

16/08/2025
Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn tòa án nhân dân quận nam từ liêm thành phố hà nội luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỒI PHẠM TỘI TRONG XÉT xử vụ ÁN HÌNH sự 1. Khái niệm và đặc điếm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử vụ án hình sự 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ỉ. Khái niệm người dưới ỉ8 tuổi phạm tội Thuật ngữ NCTN hay là người dưới 18 tuổi được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, pháp luật.

Tuy nhiên, thuật ngữ này được sử dụng chưa thống nhất, tùy từng góc độ, từng lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn mà được hiểu khác nhau. Cụ thề: Theo nhà tâm lý học G.Stanley Hall, thời kỳ của người dười dưới 18 hay là NCTN là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung đột, xáo trộn tâm trạng, đó cũng được quan niệm đồng nghía với tuối đang lớn, đang trưởng thành [191. Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về áp dụng pháp luật đối với NCTN hay còn gọi là người dưới 18 tuổi (Quy tắc Bắc Kinh) không đưa ra khái niệm về NCTN mà chỉ đưa ra thuật ngữ “người ít tuổi”. Theo đó NCTN hay còn gọi là người dưới 18 tuổi là người ít tuối.

Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người dưới 18 tuổi bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên họp quốc thông qua ngày 14/12/1990 ghi nhận tại quy tắc số 11 mục A rằng: Người dưới 18 tuổi, giới hạn tuối dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người dưới 18 tuổi L23J. Trong công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 quy định: Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuối, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn [22]. Như vậy, pháp luật quốc tế đã thừa nhận khái niệm trẻ em là người có độ tuổi dưới 18. Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm người dưới 18 tuổi được 13 hiểu: Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, tri tuệ, tinh thần cũng như chưa có đủ về quyền và nghĩa vụ công dân.

Tuy nhiên, quy định người dưới 18 tuổi như vậy thì quả thật không thể xác định độ tuổi trẻ em và NCTN trong cơ cấu dân số của một quốc gia và việc xây dựng và áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi lại càng khó khăn hơn. Còn trong pháp luật Việt Nam thì khái niệm người dưới 18 tuổi chưa được rõ ràng mà chỉ có khái niệm trẻ em. Theo đó, trẻ em quy định trong Luật này là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [341. Căn cứ các quy định nêu trên của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam chúng ta thấy có sự khác nhau trong quy định về giới hạn độ tuổi là người dưới 18 tuối: Theo Luật trẻ em của Việt Nam hiện hành quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.

Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định rõ trẻ em là người dưới 18 tuổi. Trong khi đó Việt Nam là một trong số những nước sớm phê chuẩn công ước này. Chính bởi sự “vênh” này mà Dự thảo Luật sửa đồi sung của luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em lấy tên là Luật Trẻ em đăng trên trang Dự thảo online, mục Dự thảo luật tại Điều 1 có quy định ngắn gọn như sau: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi” (Dự thào trình cho ý kiến tại phiên họp thứ 45 của ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 13). Sự thay đổi này là cần thiết một khi chúng ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em.

Tuy nhiên, ngày 05/04/2016, với 89,88% số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật trẻ em với bố cục: 7 chương, 106 điều. Trong đó giữ nguyên độ tuổi quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” như luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em hiện hành. Như vậy độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 18 tuối sẽ không được coi là trẻ em như quy định của pháp luật quốc tế. Điều này không mâu thuẫn với các quy định của luật Giáo dục, BLHS năm 2015 hay BLTTHS năm 2015 với những chương quy định dành cho những người phạm tội dưới 18 tuổi.

Luật Trẻ em có hiệu lực thi hành và thay thế luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em kể từ ngày 01/01/2017. Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 quy định tại chương XII: những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (thay vì 14 “Những quy định đôi với NCTN phạm tội như BLHS năm 1999, chương X). Sự thay đối về tên chương trong BLHS lần này có ý nghĩa: chỉ rõ chương này là những quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi thay vì NCTN - một khái niệm chưa được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam ghi nhận chính thức. Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra một khái niệm khoa học về người dưới 18 tuồi: Là người chưa đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dãn.

Khái niệm nêu trên phù hợp với tinh thần của pháp luật quốc tế cũng như những quy định của pháp luật Việt Nam trong các bộ luật: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Nó cũng phản ánh đặc điếm về tâm sinh lỷ cũng như khả năng nhận thức của lứa tuồi này. Người dưới 18 tuổi phạm tội là trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật hình sự (Điều 40, Công ước quốc tế về quyền trẻ em). Điều 37 Công ước này còn cập đến khái niệm trẻ em bị tước quyền tự do.

Khái niệm này có thể được hiểu là người dưới 18 tuổi bị tước tự do. Ngoài ra, ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc hoặc các tổ chức quốc tế khác cũng thường sử dụng khái niệm: trẻ em vi phạm pháp luật, NCTN vi phạm pháp luật, người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo UNICEF, người dưới 18 tuổi làm trái pháp luật là những người dưới 18 tuối phải làm việc với hệ thống tư pháp do bị nghi ngờ hay bị cáo buộc là phạm tội. Như vậy, khái niệm người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật có nội hàm rộng hơn khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội (bao hàm) bởi vi phạm pháp luật bao gồm: Vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự,.

Trong đó, vi phạm pháp luật hình sự có thế phải chịu hậu quả pháp lý nặng hơn, cụ thể là bị truy cứu TNHS, phải chịu hình phạt. Ớ Việt Nam, thuật ngữ người dưới 18 tuối phạm tội thay bàng thuật ngữ NCTN phạm tội được sử dụng rộng rãi trong cả khoa học luật hình sự cũng như trong pháp luật hình sự thực định. BLHS năm 1985 lần đầu tiên sử dụng thuật ngừ này, và quy định tại chương VII: Những quy định đối với NCTN phạm tội. BLTTHS cũng quy định một chương riêng dành cho các thủ tục tố tụng đối với người chưa thành (chương XXXII).

BLHS và BLTTHS năm 2015 cùng được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 cũng giành một chương riêng đề quy định về vấn đề người dưới 18 tuổi phạm tội và chương XXVII của BLHS - Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuồi. Tuy rằng tên chương đã thay đổi (những quy định đối với người dưới 18 tuổi thay vì những quy định đối với NCTN và nội dung có một số điềm mới nhưng về bản chất thì đây đều là những quy định thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với NCTN phạm tội và việc thay đổi này là để đảm bảo sự tương thích về mặt nội dung cũng như về mặt thuật ngữ đối với những quy định của pháp luật quốc tế về trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập hay phù hợp với tinh thần của luật Trẻ em năm 2016. Từ đó, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật để đảm bảo được tính thống nhất khả thi trong thực hiện pháp luật hình sự với các luật có liên quan mật thiết. Như vậy, pháp luật hình sự Việt Nam thực định chưa đưa ra khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội.

Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự thì: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực TNHS chưa đầy đủ, do hạn chế hỏ'i các đặc diêm tăm lý vả đã có loi (cổ ý hoặc vồ ỵ) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Quan niệm này chủ yếu vẫn nhắc lại các quy định cùa pháp luật và đưa ra khái niệm trên cơ sở độ tuối cùa người dưới 18 tuổi và tiếp cận ở góc độ hẹp - Tội phạm học. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì người phạm tội là người có đủ các dấu hiệu của chủ thề của tội phạm đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm. Như vậy người phạm tội có thể là người đà 18 tuối hoặc người chưa đủ 18 tuối.

Ranh giới ngăn cách giữa người chưa 18 tuổi và người trên 18 tuổi là con số 18. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ 18 tuổi thì họ là người đã 18 tuổi phạm tội và đương nhiên những quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi không thể áp dụng đối với họ. Ngược lại, nếu người phạm tội có thực hiện tội phạm nghiêm trọng đến đâu thì họ cũng không thể bị áp dụng hình phạt từ chung thân hoặc tử 16 hình như đôi với người đã đủ 18 tuôi phạm tội. Theo quy định tại điêu 12 BLHS năm 2015 (tuổi chịu TNHS) thì người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi, đã gây cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.

Từ những cơ sở phân tích trên đã nêu, có thể hiểu: Người dưới 18 tuổi phạm tội là ngưòi từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiếm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, có lỗi và phải chịu TNHS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ