Chương 1: Những vấn đề l luận và pháp luật về bảo đảm quyền trẻ em. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền cho trẻ em tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Chương 3: Phương hư ng và giải pháp thúc đẩy bảo đảm quyền trẻ em tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM 1.
Quyền trẻ em 1. Khái niệm trẻ em Trẻ em vốn được coi là một trong các đối tượng dễ bị tổn thương, được nhà nước, cá nhân, các tổ chức xã hội quan tâm bảo vệ. Do đó, việc xác định thế nào được gọi là trẻ em chính là cơ sở để thực hiện và phát huy sự quan tâm đó. Trong Công ước về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of the Child -CRC) - văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dư i 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng v i trẻ em đó quy định tuổi thành niên s m hơn” (Điều 1).
Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong lời nói đầu của Công ước đã nêu rõ “trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [03]. Theo đó, trẻ em là những người đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ; Hai là, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt; Ba là, người từ 0 đến dưới 18 tuổi. Do mỗi nước có quan niệm không giống nhau về trẻ em, nên độ tuổi được xác định là trẻ em cũng khác nhau, vì vậy, Công ước về quyền trẻ em đã quy định vấn đề này theo hướng mở. Tức là, tuổi 18 được coi là mức tiêu chuẩn nhưng không phải cố định, bắt buộc, mà cho phép mỗi quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn (dưới 18 tuổi).
Việc quy định mang tính chất mềm dẻo này, có thể làm số lượng trẻ em được bảo vệ theo Công ước giảm đi ở một số nước, 7 nhưng lại có tác dụng tích cực trong việc tăng lên về số lượng các quốc gia chấp nhận tham gia công ước. Điều đó kéo theo việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo quy định của Điều ước quốc tế này trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Liên quan đến khái niệm Trẻ em, Liên hợp quốc còn dùng khái niệm “người chưa thành niên”. Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”.
Họ là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ bị hạn chế, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động phiêu lưu mạo hiểm. Như vậy, việc sử dụng những khái niệm này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý. Liên hợp quốc đặt trẻ em trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi phạm pháp. Kêu gọi các nước thành viên tham gia CRC phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp; tích cực, huy động các nguồn lực có thể để giúp đỡ trẻ em và người chưa thành niên nhằm giảm sự can thiệp của pháp luật và xử lý người chưa thành niên phạm pháp một cách công bằng, nhân đạo và hiệu quả.
Ở Việt Nam cũng không có một định nghĩa chung về trẻ em. Theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì trẻ em là “Công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, độ tuổi được coi là trẻ em trong pháp luật nước ta thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Tuy nhiên, đây không bị coi là trái với CRC vì Điều 1 Công ước này cho phép các quốc gia thành viên quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi.
Bên cạnh khái niệm trẻ em, cũng giống như pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam còn có khái niệm “người chưa thành niên” (là những người dưới 18 tuổi 8 theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015); “lao động chưa thành niên” (là những người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 118 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007), và “người chưa thành niên phạm tội” (là những người phạm tội khi còn dưới 18 tuổi, theo các quy định có liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngoài ra, liên quan đến trẻ em, theo Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 lại quy định người đang được nuôi dưỡng, đào tạo trong hệ thống giáo dục mầm non “từ ba tháng đến sáu tuổi” được coi là trẻ em (Điều 21), còn người từ 6 tuổi đến 18 tuổi gọi là học sinh. Mặc dù không có một điều khoản thống nhất quy định rõ ràng về độ tuổi trẻ em, nhưng về cơ bản, các quy định xung quanh khái niệm này đều tương thích với điều khoản ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989. Do đó, có thể đưa ra định nghĩa chung nhất về trẻ em ở Việt Nam đó là: Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, vẫn còn non nớt về thể chất và trí tuệ, do đó cần sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền.
Đây là cách định nghĩa phù hợp với tinh thần của hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời không mâu thuẫn với quy định của pháp luật quốc tế. Việc xác định thống nhất khái niệm về trẻ em có ý nghĩa khá quan trọng. Bởi nó sẽ là cơ sở để làm rõ các khái niệm có liên quan đồng thời tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này [20]. Khái niệm quyền trẻ em Quyền trẻ em đã được các quốc gia và cộng đồng quốc tế công nhận thông qua các văn kiện pháp lý quốc tế.
Những văn kiện quốc tế có hiệu lực sau khi được một số nước phê chuẩn hay gia nhập (gồm công ước, hiệp ước, nghị định thư). Các quốc gia thành viên chịu sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các văn kiện này ngay khi thủ tục cuối cùng biểu hiện sự nhất trí tuân thủ đã hoàn thành [21]. Tuy nhiên việc định nghĩa quyền trẻ em lại 9 không đơn giản bởi nó được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ tình thương, trẻ em được coi như những chủ thể phải được hưởng tình thương của xã hội, biểu hiện ở những hành động nhân ái, kêu gọi ý thức trách nhiệm và bảo vệ trẻ em khỏi đói nghèo, bệnh tật.
Những hành động này có tác động mạnh đến lòng trắc ẩn của mọi người, nhưng nó chỉ có tác dụng tức thời. Nói cách khác những hành động ấy thường mang tính giai đoạn không liên tục. Như vậy, theo cách tiếp cận này trẻ em là chủ thể được hưởng sự ưu ái của xã hội nhưng mang tính chất thụ động và phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn, vào xã hội và trẻ em là chủ thể tiếp nhận. Mặt khác, theo cách này thì những nguyên nhân ảnh hưởng tới cuộc sống của trẻ em và những giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em và những giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em không được đề cập đến.
Cách tiếp cận này mang tính đạo đức hơn là tính pháp lý. Dưới khía cạnh nhân đạo, trẻ em được coi là đối tượng cần phải bảo vệ, đặc biệt khi trẻ em rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm. Quan niệm này khác với quan niệm tình thương là ở tính chất của vấn đề mà nó giải quyết đó là trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên điểm giống nhau là cách thức giải quyết vấn đề.
Trong cả hai quan niệm, các hành động chỉ nhằm chấm dứt tức thời những nỗi đau khổ và nguy cơ trẻ em phải gánh chịu. Như vậy, cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng nguy hiểm. Chính vì thế nó không phản ánh được đầy đủ đối tượng được hưởng quyền là tất cả trẻ em. Hơn nữa, điểm hạn chế của quan niệm này là ở chỗ: không tìm nguyên nhân gây ra nguy hiểm của trẻ em và việc ngăn chặn phòng ngừa.
Do đó, quyền trẻ em dưới hai khía cạnh tình thương và nhân đạo mặc dù rất cần thiết trong cuộc sống của trẻ em nhưng mới chỉ dừng lại ở sự chia sẻ của người lớn đối với trẻ em. Quan niệm phát triển cho rằng trẻ em phải có các điều kiện thích hợp để phát triển và trưởng thành, trở thành những công dân có ích, có năng lực như người lớn. So với các quan niệm 10 trên, nét khác biệt và cũng là điểm tích cực của quan niệm phát triển ở chỗ: phải tạo điều kiện, môi trường cho sự phát triển của trẻ em. Theo cách tiếp cận của sự sống còn và phát triển, quyền trẻ em bao gồm yếu tố nhân đạo và quan niệm phát triển.
Như vậy, quyền trẻ em được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và mỗi cách tiếp cận đều có yếu tố hợp lý nhất định. Với cách tiếp cận tình thương và nhân đạo, nó phản ánh giá trị nhân văn của xã hội loài người. Đó là mối quan hệ giữa con người với con người, đó là sự ưu ái của người lớn cho trẻ em bởi vì trẻ em cần phải được bảo vệ. Điều này rất cần thiết trong cuộc sống.
Nhưng những quan niệm này không thấy được tính tích cực của chủ thể cần bảo vệ, mà nhìn nhận trẻ em như những chủ thể thụ động. Với cách tiếp cận sống còn và phát triển, tính tích cực và hợp lý của quan điểm này thể hiện: trẻ em trước tiên cần có sự sống và sự sống còn của trẻ em là cơ sở để trẻ em phát triển, trưởng thành. Như vậy, quan niệm này đã chỉ ra được cách thức cho sự phát triển của trẻ em, nhìn nhận trẻ em là chủ thể tích cực trong việc hưởng quyền.