CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN • VÀ NỘI • DUNG PHÁP LUẬT • VÈ BẢO ĐÃM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG sự TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN sự TẠI TÒA ÁN CẤP sơ THẨM 1. Khái niệm, đặc điếm, ý nghĩa việc băo đẳm quyền tranh tụng ciía đương sự trong quá trình giài quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm 1. Khái niệm Theo các nhà nghiên cứu, tố tụng tranh tụng xuất hiện từ rất sớm cùng sự xuất hiện của Tòa án nhà nước ở Châu Âu. Loại hình tố tụng này được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục đáp liên tục” [11, tr.
Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và cho đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ. Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tranh tụng. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán - Việt từ điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải” [4, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng” [23, tr.1686], tại Từ điển luật học thì tranh tụng được hiếu: “là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng vói nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ đe bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”.
Cách hiểu này đã thể hiện được một số đặc trưng của tranh tụng như: “là hoạt động tố tụng của các bên tham gia tố tụng”; “có quyền bình đẳng với nhau. để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập” [25, tr. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với những hoạt động tố tụng khác và cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của một chủ thể là Tòa án. 9 Xung quanh khái niệm tranh tụng trong tô tụng dân sự còn có nhiêu quan điểm khác, ví dụ như: Cách tiếp cận thứ nhất, cho rằng: Tranh tụng trong tố tụng dân sự được hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án xác định sự thật khách quan của vụ án [1, tr.
Cách tiếp cận thứ hai, cho rằng: Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bão vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên đế ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự [1], Cách tiếp cận thứ ba, cho ràng: Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chì bao gồm các giai đoạn khởi kiện,chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thấm, phúc thấm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại [25, tr. Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận đề chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là có căn cứ và 10 hợp pháp.
Trên cơ sớ kêt quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội đông xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự. Nghiên cứu cách tiếp cận với những quan điểm trên, có thể nói nếu tranh tụng được hiểu như quan điểm thứ nhất thì chưa đầy đú bởi quan điểm này mới chỉ coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến khi có bàn án, quyết định của Toà án mà chưa thể hiện được bản chất, ý nghĩa của tranh tụng. Nếu tranh tụng được hiểu theo quan điểm thứ hai thì tuy phần nào nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của khái niệm này lại quá hẹp. Theo đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự chỉ diễn ra ở phiên toà, tranh tụng trong tố tụng dân sự đồng nghĩa với tranh tụng tại phiên toà và chỉ giới hạn trong phần tranh luận của các bên tham gia tố tụng tại phiên toà là chưa đầy đủ.
về ngữ nghĩa, thuật ngừ tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên toà là khác nhau. Thực chất thì tranh luận tại phiên toà chỉ là sự biểu hiện tập trung cao nhất của tranh tụng trong tố tụng dân sự. Theo quan điểm thứ ba, mặc dù khái niệm đã phản ánh được bản chất của tranh tụng nhưng lại không khái quát được giới hạn của quá trình tranh tụng, cụ thể là hoạt động tranh tụng sẽ được bắt đầu và kết thúc ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Tác giả cho rằng, khái niệm tranh tụng dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì cũng là phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, đồng thời đề Tòa án tìm ra được sự thật khách quan của vụ án.
Nói cách khác, tranh tụng là quá trình hoạt động của các chủ thể tố tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong hoạt động tranh tụng các chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển cùa Tòa án được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân 11 sự quy định và Tòa án ra phán quyêt giải quyêt vụ án dân sự căn cứ vào kêt quả tranh tụng của các chủ thề tranh tụng. Vì vậy, tranh tụng được coi là một phương thức tố tụng để Toà án xác định sự thật khách quan của vụ án dân sự và đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Từ những phân tích trên, khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự cần được hiểu thống nhất như sau.’ ___ r Tranh tụng trong tô tụng dân sự là quá trình làm rõ sự thật khách quan hoặc quyêt định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Theo đó, các chủ thê tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa án được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận đê bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Theo Từ điên Tiêng Việt “bảo đảm ” nghĩa là “làm cho chăc chăn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [22, tr. Bảo đảm nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thể thực thi trên thực tế. Để làm được cho một vấn đề nào đó có tính khả thi thì đòi hởi phải có một cơ chế phù họp với từng vấn đề cần thực hiện.Trong tố tụng dân sự, việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự bao gôm nhiêu nội dung khác nhau như bảo đảm pháp lý, báo đảm thông qua sự phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo đảm thông qua sự giám sát, kiểm sát của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm trong việc tổ chức thực hiện quyền tranh tụng của đương sự.
Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn nên tác giả tập trung nghiên cứu vê bảo đảm pháp lý. Hơn nữa, trong các biện pháp bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự thì bảo đảm pháp lý là quan trọng nhất. Đó là tiền đề cho việc thực hiện các bảo đảm khác cũng như tạo điều kiện cho các bảo đảm khác phát huy được vai trò và hiệu quả của chủng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự. Theo đó, bảo đảm pháp lý quyền 12 tranh tụng của đương sự trong tô tụng dân sự là bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng bằng các quy định của pháp luật.
Hệ thống pháp luật cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ cua đương sự để đương sự thực hiện việc tranh tụng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự, về trách nhiệm phổi hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong việc hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, về trình tự, thủ tục tố tụng tranh tụng cụ thể, công khai, minh bạch. Tiếp đó, để các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự• được • thực • hiện • trên thực • tế thì cần phải M có cơ chế tồ chức thực • hiện. • Theo đó, các phương tiện thông tin đại chúng, cả hệ thống chính trị và xã hội phải thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự, thực hiện cơ chế phối hợp, hỗ trợ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thực hiện cơ chế giám sát hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thực hiện nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho những người tiến hành tố tụng dân sự và kiện toàn hệ thống tổ chức Tòa án. Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cap sơ thẩm là tổng hợp các biện pháp, cách thức đê cho các đương sự gồm nguyên đon, bị đon và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được trên thực tế quyền tranh tụng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án.