phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành. Nhận thức chung về quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành. Nội dung cơ bản của quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành 1. Các yếu tố, điều kiện bảm đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013 Chƣơng 2: Thực trạng thực thi quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013 2.
Thực trạng môi trƣờng hiện nay ở Việt Nam. Thực trạng công tác quản lý môi trƣờng 2. Thực tiễn thực thi pháp luật trong bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013 và nguyên nhân của thực trạng này. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013.
Phƣơng hƣớng bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013. Một số giải pháp cơ bản bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành theo Hiến pháp 2013. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢỢC SỐNG TRONG MÔI TRƢỜNG TRONG LÀNH 1. Nhận thức chung về quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành.
Khái niệm về quyền con ngƣời Việc đƣa ra khái niệm đúng đắn về quyền con ngƣời nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa có thể nêu ra một số thuộc tính cơ bản của khái niệm quyền con ngƣời: Một là, quyền con ngƣời là những giá trị gắn với mỗi con ngƣời vừa với tƣ cách là cá nhân, vừa với tƣ cách là một thành viên xã hội. Vì vậy, quyền con ngƣời vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Hai là, quyền con ngƣời là những giá trị phải đƣợc xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi ngƣời, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính.
Ba là, quyền con ngƣời vừa là thuộc tính tự nhiên của con ngƣời, vừa là những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nƣớc cụ thể. Ghi nhận quyền con ngƣời, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử cụ thể. Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con ngƣời với tƣ cách là tự nhiên và xã hội mới 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở thành quyền đƣợc xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn. Với ba yếu tố trên, quan niệm nhân quyền vừa khẳng định cơ sở tự nhiên vừa thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con ngƣời thuộc một quốc gia, một dân tộc.
Trong khoa học pháp lý, căn cứ vào nội dung, quyền con ngƣời đƣợc chia thành các nhóm cơ bản: Các quyền chính trị bao gồm quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc và thảo luận các vấn đề chung của cả nƣớc, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, tự do tín ngƣỡng, quyền lập hội, quyền đƣợc thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo v.; Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, quyền đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền đƣợc bảo đảm an toàn và bí mật về thƣ tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cƣ trú v.; Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền đƣợc bảo vệ sức khỏe, quyền đƣợc bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tƣợng đặc biệt nhƣ thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, ngƣời già, trẻ em, ngƣời tàn tật không nơi nƣơng tựa v.v… Ngoài ra, căn cứ vào mức độ điều chỉnh của pháp luật, quyền con ngƣời đƣợc phân thành các quyền cơ bản và các quyền pháp lý khác: Quyền cơ bản của công dân (hay quyền hiến định) là các quyền quan trọng nhất, cơ bản nhất thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nƣớc và công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quyền pháp lý khác. Quyền pháp lý khác là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực pháp lý khác nhau đƣợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể. Ví dụ: quyền con 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời trong lĩnh vực hình sự, quyền con ngƣời trong lĩnh vực hành chính, quyền con ngƣời trong lĩnh vực lao động. Các quyền con ngƣời cụ thể này đƣợc cụ thể hóa trên cơ sở các quyền cơ bản và không trái với các quyền cơ bản đƣợc Hiến pháp quy định, thể hiện sự nhất quán của Nhà nƣớc ta trong ghi nhận và bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân.
Quyền con ngƣời và việc bảo đảm các quyền con ngƣời trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể đƣợc quy định phụ thuộc vào tính chất của ngành luật và chức năng của Nhà nƣớc trong lĩnh vực đó. Ví dụ: Quyền con ngƣời trong lĩnh vực tố tụng hình sự đƣợc quy định trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động tố tụng hình sự gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nƣớc là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh ngƣời phạm tội; nhƣng đồng thời hoạt động tố tụng hình sự cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ bản của con ngƣời v.v… Tóm lại, dƣới góc độ ngữ nghĩa, quyền con ngƣời là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con ngƣời đƣợc ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lí quốc tế.Hay nói một cách khác, quyền con ngƣời là hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm cống hiến cho cuộc sống và sự tự do cơ bản nhất của mỗi con ngƣời; từ đó, tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con ngƣời đƣợc các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ, đƣợc ghi nhận và công nhận trong hầu hết các đạo luật của các quốc gia trên thế giới. Theo đó, các quyền cơ bản của con ngƣời bao gồm quyền đƣợc sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc và quyền đƣợc bảo vệ bình đẳng trƣớc pháp luật. Đặt nền móng cho sự cụ thể hóa các quyền này là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights 1948); Nghị quyết của đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1962 về sự phát triển kinh tế và bảo vệ thiên nhiên; các Công ƣớc quốc tế về các quyền chính trị, dân 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự, kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966.
Đến năm 1972, quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận một cách rõ nét thông qua Tuyên bố của Liên hợp quốc tại Stokholm năm 1972 với nội dung: “Con ngƣời có quyền cơ bản đƣợc tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trƣờng chất lƣợng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con ngƣời có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” [29]. Nội dung này đƣợc ghi nhận tại Nguyên tắc đầu tiên trong Tuyên bố. Tiếp theo đó là sự ghi nhận cụ thể và chi tiết hơn tại hàng loạt các văn bản pháp lý quốc tế có giá trị nhƣ: Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về môi trƣờng và phát triển (Rio de Janeiro 1992); Tuyên bố Johannesburg năm 2002 về phát triển bền vững. Khái niệm về môi trƣờng Môi trƣờng có thể định nghĩa rộng hay hẹp.
Một số nƣớc định nghĩa môi trƣờng chỉ là môi trƣờng tự nhiên bao gồm: đất, nƣớc, không khí, chất hữu cơ, vô cơ và các sinh vật sống. Đa số các nƣớc định nghĩa môi trƣờng bao gồm cả môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng kinh tế - xã hội chịu ảnh hƣởng của những thay đổi trong môi trƣờng tự nhiên. Theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014 của Việt Nam: "Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật" (khoản 1). Theo điều luật này thì thành phần môi trƣờng là yếu tố vật chất tạo thành môi trƣờng gồm đất, nƣớc, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (khoản 2)[21].
Nhƣ vậy, môi trƣờng là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con ngƣời, có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển kinh tế – xã hội và sự tồn tại, phát triển của con ngƣời. Hay 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nói cách khác, đó là hệ thống tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con ngƣời và có ảnh hƣởng tới sự sống, phát triển của các cá nhân và cộng đồng ngƣời và các bộ phận của thiên nhiên. Dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau (theo thành phần, quy mô, mức độ can thiệp của con ngƣời, mục đích sử dụng.) để phân loại môi trƣờng, trong đó cách phân loại phổ biến hơn cả đó là phân chia môi trƣờng theo thành phần: môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và môi trƣờng nhân tạo. Môi trƣờng tự nhiên là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh con ngƣời và các cơ thể sống khác, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại gắn bó và ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống cũng nhƣ sự phát triển kinh tế - xã hội.
Cấu trúc của môi trƣờng tự nhiên bao gồm: đất, nƣớc, không khí, hệ sinh thái động thực vật và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hƣởng tới đời sống con ngƣời. Môi trƣờng tự nhiên có phạm vi rộng, khi nghiên cứu về môi trƣờng tự nhiên của con ngƣời trong phạm vi trái đất, ngƣời ta dựa vào các thành phần để phân ra thành: môi trƣờng đất, môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí và môi trƣờng sinh vật. Môi trƣờng xã hội là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời.