Chương 1: Những khía cạnh lý luận của việc bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự Chương 2: Thực tiễn bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÁC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƢƠNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Nhóm dễ bị tổn thƣơng và những đặc thù 1.
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương và các nhóm người dễ bị tổn thương Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tính dễ bị tổn thương. Theo quan điểm của Ingrid Nifosi-Sutton (Giáo sư về Luật Quốc tế, Luật Nhân quyền quốc tế và tổ chức quốc tế của Trường Đại học Luật Washington, Mỹ) trong cuốn sách Bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương trong Luật nhân quyền quốc tế thì “tính dễ bị tổn thương” trong luật quốc tế được thể hiện ở hai yếu tố cấu thành: (i) có đặc điểm về thể chất hoặc trong tình trạng bị khiếm khuyết v., không quốc tịch hoặc bị tước quyền tự do, tình trạng tìm kiếm tị nạn; (ii) về mặt pháp lý căn cứ vào hoạt động của luật pháp mà làm cho một số người bị tổn thương hơn trong việc vi phạm quyền con người hoặc không thể thực hiện được các quyền con người này, ví dụ như nhóm người bản địa, người di cư, người sống chung với HIV/AIDS [47]. Theo quan điểm của Bryan Stanley Turner (Giáo sư về xã hội học của Trường Đại học Cambrigde, Anh) trong cuốn Dễ bị tổn thương và nhân quyền, cho rằng, toàn bộ hệ thống của Liên Hợp quốc được hình thành trên cơ sở lấy nền tảng là nhóm dễ bị tổn thương, cụ thể: (i) các quy định của luật nhân quyền quốc tế công nhận về tính dễ bị tổn thương của các nhóm người như người Do Thái, người đồng tính và người khuyết tật; (ii) các quy định được xây dựng trên tiền đề về sự cần thiết phải tôn trọng nhân phẩm và bình đẳng của mỗi con người và cam kết thực hiện nhân quyền; (iii) quy định về việc ngăn chặn phát 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh các vi phạm về nhân quyền. Tuy nhiên, các thiết chế bảo đảm quyền con người chưa có học thuyết cụ thể để xác định nhóm người dễ bị tổn thương, điều này được thể hiện ở việc chưa có tiêu chí cụ thể xác định thế nào là dễ bị tổn thương và chưa nhận diện được các nhóm trong các trường hợp đặc biệt [46].
Nhóm người dễ bị tổn thương (Vulnerable Group) được sử dụng khá phổ biến trong các hoạt động nghiên cứu, học tập và trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Tuy nhiên lại không có một văn kiện pháp lý chính thức nào định nghĩa một cách rõ ràng về thuật ngữ này cũng như hiểu một cách chính thức về tính chất dễ bị tổn thương của nhóm người này. Theo Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người của Đại học quốc gia Hà Nội thì khái niệm nhóm người dễ bị tổn thương là khái niệm “chỉ những nhóm, cộng đồng người có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị tổn thương về quyền con người, và bởi vậy, cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác” [7, tr. Một số nhóm người được coi là dễ bị tổn thương trong luật nhân quyền quốc tế bao gồm: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống chung với HIV, người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao động di trú, người thiểu số (về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo.), người bản địa, nạn nhân chiến tranh, những người bị tước tự do, người cao tuổi.
Trong pháp luật Việt Nam cũng quy định về những người dễ bị tổn thương như: - Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định những người được trợ giúp pháp lý bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn [30, Điều 7]. - Luật phòng, chống thiên tai năm 2013 quy định về đối tượng dễ bị tổn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo [24, Điều 3]. Ngoài ra, Luật Người khuyết tật, Luật Trẻ em,.
là những luật cụ thể quy định về từng nhóm người dễ bị tổn thương. Sự phân chia các nhóm dễ bị tổn thương Căn cứ vào độ tuổi có thể chia ra các nhóm dễ bị tổn thương gồm: Trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi,. Căn cứ vào đặc điểm về thể chất có thể chia ra các nhóm dễ bị tổn thương gồm: Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, người sống chung với HIV/AIDS,. Căn cứ vào các đặc điểm về hoàn cảnh sống có thể chia ra các nhóm dễ bị tổn thương gồm: Người tị nạn, người lao động di trú, người thiểu số, người bản địa, người không quốc tịch, người nước ngoài,… Căn cứ vào tư cách tham gia TTHS có thể phân chia các nhóm dễ bị tổn thương gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bị thi hành án, người bị hại,… 1.
Tính dễ bị tổn thương của một số nhóm 1. Trẻ em Trẻ em được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất và được tất cả các quốc gia, cộng đồng trên thế giới quan tâm bảo vệ. Lý do trẻ em dễ bị tổn thương là do trẻ em là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lí, tâm lí và ý thức. Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời của trẻ em.
Trong giai đoạn này, các em không có hoặc bị hạn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế khả năng tự bảo vệ mình, hơn nữa tâm lý muốn khẳng định bản lĩnh, cái tôi của tuổi mới lớn dễ dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương cho các em như dễ bị lạm dụng, xúi giục phạm tội hoặc trở thành nạn nhân của tội phạm, nhiều em không biết và không nhận thức được việc mình đã làm là hành vi sai trái. Trẻ em là những đối tượng đặc biệt cần được toàn xã hội quan tâm và bảo vệ. Theo Điều 1 Công ước về Quyền Trẻ em (CRC), trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định khác. Trong lĩnh vực hình sự, trẻ em (hay người dưới 18 tuổi) là những người dễ bị tổn thương, dễ bị xâm hại bởi tội phạm và dễ bị kích động, dụ dỗ bước chân vào con đường phạm tội.
Khi tham gia tố tụng, trẻ em do có nhận thức về pháp luật còn hạn chế, thiếu hoặc không có khả năng tự bảo vệ, phần nhiều các em không nhận thức được các quyền con người của mình đang bị vi phạm nên dễ chịu tổn thương bởi các hành vi tố tụng của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người khuyết tật Người khuyết tật cũng là một nhóm người chiếm tỷ lệ lớn trên thế giới. Theo Điều 1 Công ước về người khuyết tật thì người khuyết tật được hiểu là “những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Người khuyết tật được coi là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất, vì tình trạng khuyết tật khiến họ dễ bị phân biệt đối xử do những nhược điểm cơ thể, tâm thần, trí tuệ, cảm xúc,… và thường bị người khác kỳ thị, trêu đùa, bỏ rơi và bị mặc cảm.
Tình trạng khuyết tật cũng làm cho người bị khuyết tật khó khăn hơn trong việc thực hiện các quyền của mình như quyền học tập, lao động, tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí,… [7, tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với những đặc điểm dễ bị tổn thương như vậy, người khuyết tật dễ phạm tội và dễ bị tổn thương bởi tội phạm. Khi tham gia TTHS, người khuyết tật là đối tượng dễ chịu thiệt thòi do thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ tiếp cận tư pháp, đa số họ có hoàn cảnh khó khăn thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý nhưng quyền này của họ dễ bị bỏ qua bởi những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng… 1. Phụ nữ Phụ nữ là nhóm dễ bị tổn thương chiếm số lượng lớn nhất trong số các nhóm dễ bị tổn thương do phụ nữ chiếm một nửa thế giới nên vấn đề quyền của phụ nữ thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế [7, tr.
Năm 1967, Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Sau đó là sự ra đời của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18-12-1979, có hiệu lực từ ngày 3-9-1981, nội dung của công ước đề ra những cách thức, biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền con người mà họ đã được thừa nhận trong những điều ước quốc tế trước đó. Phụ nữ dễ chịu sự tổn thương bởi các lý do sau: Do tư tưởng trọng nam khinh nữ từ thời xã hội phong kiến nên phụ nữ dễ bị phân biệt đối xử, phụ nữ là phái yếu do thể chất không bằng nam giới, dễ lâm vào tình trạng bị bạo hành, cưỡng bức, lợi dụng,… Trong lĩnh vực hình sự, phụ nữ dễ trở thành nạn nhân của tội phạm và thời gian gần đây, phụ nữ thực hiện hành vi phạm tội cũng trở thành tình trạng đáng báo động.