Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của trẻ em hiện nay Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam hiện nay 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BẢO ĐẢM QUYỀN HỌC TẬP CỦA TRẺ EM 1. Quan niệm về trẻ em và quyền trẻ em 1. Quan niệm về trẻ em Trẻ em luôn là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ của gia đình mà còn của cả xã hội. Không phải quá khó khăn để tìm được lời lý giải cho điều này.
Tuy nhiên, khi nhìn nhận từ các góc độ khác nhau: Xã hội học, Tâm lý học, Luật học…, mỗi một góc độ lại đặt ra những yêu cầu khác nhau nhằm đáp ứng tốt hơn đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ em. Hơn nữa, quan niệm về trẻ em của các quốc gia trên thế giới cũng khác nhau. Dưới góc độ xã hội học, trẻ em là một bộ phận của cơ cấu xã hội [7] dựa vào tiêu chí đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được chia thành nam và nữ, người già người trẻ, người lớn trẻ em, trình độ dân trí cao hay thấp. Theo tiêu chí này, kết cấu xã hội được phân chia căn cứ vào giới tính, trình độ văn hóa, mức độ đóng góp cho xã hội.
Dưới góc độ tâm lý học, xác định trẻ em căn cứu vào độ tuổi và yếu tố tâm lý trong từng giai đoạn phát triển. Nhìn chung các nhà tâm lý học trẻ em trên thế giới đều thống nhất cách phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em như sau [11]: - Giai đoạn từ 1 - 1,5 tuổi: Giai đoạn này trẻ em được đáp ứng nhanh chóng mọi nhu cầu, cần được chăm sóc thông qua người mẹ. Trẻ em cảm nhận được và dần dần có niềm tin vào thế giới xung quanh. - Giai đoạn từ 1,5 - 3 tuổi: Trẻ em bắt đầu biết đi và tự định hướng cho mình, hình thành sự tự chủ, muốn tỏ ra độc lập.
- Giai đoạn từ 3 - 6 tuổi: Trẻ em ở độ tuổi này hình thành những năng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực làm chủ những sự lựa chọn mới. Tình cảm hồn nhiên dễ yêu dễ giận, đồng thời với khả năng thực hiện phẩm chất tự chủ là một phần của ý thức đứa trẻ về sự hình thành cá tính của nó. Tương ứng với giai đoạn này là sự lựa chọn giữa chủ động sáng tạo và cảm giác có lỗi. - Giai đoạn từ 6 - 12 tuổi: Giai đoạn này trẻ em háo hức sẵn sàng học hỏi nhiều cái mới và đây cũng là độ tuổi trẻ em đến trường.
Vì vậy thái độ của người lớn, của môi trường giáo dục sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. - Giai đoạn từ 13 - 18 tuổi: Đây là giai đoạn chưa thành niên, ý thức về mình bước đầu được hình thành. Tôi là ai ? Mình sẽ là người như thế nào ? Giai đoạn này trẻ em cố gắng khẳng định mình như một người độc lập, sẵn sàng hành động như người lớn. Từ lâu trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ [5].
Việc phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em là căn cứ vào sự phát triển của trí tuệ, thể chất và tâm lý để từ đó cha mẹ, nhà trường và xã hội có thể hiểu rõ hơn về trẻ em và có các biện pháp giáo dục phù hợp. Vì vậy theo các nhà tâm lý học giai đoạn kết thúc của trẻ em là tuổi 18. Bởi vì độ tuổi này đã có sự phát triển đầy đủ về trí tuệ, thể chất, tâm hồn và đã làm chủ được suy nghĩ đưa ra được những hành vi sử xự phù hợp với xã hội, đạo đức và pháp luật. Về phương diện pháp lý, câu hỏi ʺThế nào là trẻ em ?ʺ đã được đặt ra, theo truyền thống trẻ em được định nghĩa như một sự so sánh phủ định: trẻ em là những người chưa trưởng thành.
Đó là một định nghĩa hàm chứa các yếu tố tôn giáo, văn hóa, thể chất, niềm tin và định nghĩa này đặt ra hai vẫn đề: lúc đầu và khi hết thúc giai đoạn trẻ em để trở thành người trưởng thành. Về thời điểm bắt đầu của trẻ em, chúng ta thấy trong lời nói đầu của tuyên ngôn về quyển trẻ em năm 1959 có quy định: ʺtrẻ em còn non nớt về 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đờiʺ. Quy định này đã xác định lúc bắt đầu trẻ em khi còn là bào thai trong bụng mẹ và được bảo vệ về mặt pháp lý, tuy nhiên Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 chỉ là một tuyên bố mang tính chất khuyến nghị và theo pháp luật quốc tế, tuyên ngôn không có giá trị ràng buộc với các quốc gia. Vì vậy pháp luật của các quốc gia không bị ràng buộc bởi quy định của Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959.
Theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989, trẻ em chính thức có quyền được bảo vệ từ thời điểm sinh ra với quyền được đăng ký khai sinh [3]. Quyền khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt [8]. Như vậy, thời điểm bắt đầu của trẻ em xét về phương diện pháp lý được xác định theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989 cũng giống như quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sau khi sinh ra, trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và được pháp luật bảo vệ và trong từng giai đoạn phát triển có những thuật ngữ tương ứng được sử dụng với trẻ em: Trẻ sơ sinh được biểu hiện là những đứa trẻ ở giai đoạn đầu tiên sau khi sinh ra và còn non nớt về mọi phương diện; Nhi đồng là trẻ em ở giai đoạn từ 4 đến 10 tuổi; Thiếu niên là trẻ em ở giai đoạn từ 10 đến 14 tuổi [2].
Thuật ngữ thiếu niên được đề cập đến trong năm quốc tế của trẻ năm 1985; Vị thành niên được hiểu là những người dưới 18 tuổi, thuật ngữ này nhắc đến trong Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ quyền tự do không bị tước đoạt của trẻ em vị thành niên. Liên Hợp Quốc đặt trẻ em trong đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền của trẻ em và người chưa thành niên trong cuộc sống bình thường ở gia đình và cộng đồng cũng như quyền của trẻ em khi vi phạm pháp luật. Bởi vì trẻ em là những người chưa trưởng thành do vậy họ không thể tự mình quyết định và hành động một cách tốt nhất. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về thời điểm kết thúc giai đoạn trẻ em, vấn đề này pháp luật của các quốc gia quy định cũng rất khác nhau.
Mặc dù trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ và năng lực nhưng theo quy định của pháp luật trẻ em bước đầu tham gia một số quan hệ pháp luật. Đa phần pháp luật các quốc gia quy định tuổi 14 là tuổi kết thúc của giáo dục bắt buộc và là giới hạn pháp lý tối thiểu cho việc kết hôn; tuổi 15 là tuổi được phép tham gia quan hệ lao động theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế. Ở Việt Nam theo quy định của Luật Giáo dục năm 1988 thì tuổi kết thúc của giáo dục bắt buộc là 14 tuổi; hoặc theo quy định của Bộ Luật Lao động năm 1994 thì tuổi tham gia quan hệ lao động của trẻ em là 15 tuổi. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế và quốc gia trẻ em được phép tham gia một số quan hệ pháp luật nhưng để tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật với tư cách là người trưởng thành thì pháp luật các quốc gia xác định rất khác nhau.
Đa số các quốc gia trên thế giới quy định đủ 18 tuổi là kết thúc giai đoạn trẻ em, có một số quốc gia lại định nghĩa trẻ em là những người dưới 20 tuổi như Thụy Sỹ. Ở Việt Nam, theo quy định của Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em được định nghĩa là những người dưới 16 tuổi. Sự khác nhau đó được Ủy ban về quyền con người của Liên Hợp Quốc khái quát rằng: pháp luật quốc tế không chỉ ra tuổi mà một người đạt tới sự trưởng thành, điều này được xác định bởi mỗi quốc gia trong sự liên quan với các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa. Quan điểm của Ủy ban về quyền con người được cụ thể hóa trong Điều 1 của Công ước về quyền trẻ em năm 1989: ʺTrẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng quy định tuổi trưởng thành sớm hơnʺ.
Như vậy, định nghĩa trẻ em của Công ước về quyền trẻ em như là một sự khẳng định ngược: kết thúc giai đoạn trẻ em là bắt đầu của tuổi trưởng thành. Câu hỏi đặt ra: ʺThế nào là trẻ em ?ʺ dưới góc độ pháp lý đã được trả lời, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó là những người chưa trưởng thành có thời điểm bắt đầu là khi sinh ra và giai đoạn kết thúc như theo Điều 1 của Công ước về quyền trẻ em. Chúng ta có thể thấy, dưới góc độ tâm lý hoặc pháp lý thì tuổi 18 vẫn là một hình thức của tiêu chuẩn trẻ em [19]. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ: dưới góc độ pháp lý thì việc tiếp cận trẻ em với tư cách là chủ thể có địa vị pháp lý.
Điều đó có nghĩa trẻ em là những người có quyền, có bổn phận và là đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Theo pháp luật quốc tế, trẻ em là con người và được hưởng quyền con người. Theo pháp luật quốc gia trẻ em là công dân của quốc gia. Pháp luật quốc gia giới hạn tuổi và xác lập địa vị pháp lý của trẻ em là dựa trên điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia.
Cho nên giới hạn tuổi và địa vị pháp lý của trẻ em ở các quốc gia khác nhau cũng sẽ khác nhau. Đó là thực tế khách quan bởi điều đó phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia.