Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Những vấn đề cơ bản về quyền công dân 1. Lịch sử hình thành và phát triển của quyền công dân Mặc dù vấn đề công dân đã manh nha trong tƣ tƣởng của Aritstốt nhƣng phải đến thời điểm ra đời Nhà nƣớc Cộng hòa Quý tộc chủ nô trong xã hội cổ đại La Mã vấn đề công dân mới xuất hiện rõ nét. Vấn đề quyền công dân chỉ đƣợc bàn đến rộng rãi và phổ biến trong xã hội tƣ sản đặc biệt là qua các cuộc Cách mạng Tƣ sản và sự xuất hiện các Nhà nƣớc Tƣ sản ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII, sau các cuộc Cách mạng Vô sản và sự xuất hiện Nhà nƣớc XHCN thế kỷ XX.
Trải qua thời gian, vấn đề quyền công dân ngày càng đƣợc hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội, của khoa học pháp lý. Tại Châu Âu đến cuối thế kỷ thứ XIX vấn đề quyền công dân bắt đầu đƣợc bàn đến rộng rãi và đƣợc ghi nhận trong các bản Hiến pháp. Điển hình là tại Đức, quyền công dân bắt đầu đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp từ năm 1818 - 1819 (Hiến pháp Baria và Bađen năm 1818, Nurtemberg năm 1819). Khi đó, nƣớc Đức còn đang ở trong thời kỳ quân chủ lập hiến.
Đây là thời kỳ chuyển giao giữa chế độ phong kiến và chế độ tƣ bản chủ nghĩa nên thời kỳ này đã có một sự dung hòa, thích nghi giữa trật tự pháp luật quân chủ tuyệt đối với những đòi hỏi về kinh tế và chính trị của giai cấp tƣ sản mà trong đó, cái ảnh hƣởng to lớn là những tƣ tƣởng của chủ nghĩa tự do kinh tế. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, quyền công dân đƣợc tiếp cận ở góc độ quyền bình đẳng với tƣ cách là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới - với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và sự thể hiện tuyên ngôn này trong pháp luật quốc gia. Những năm 70, 80 của thế kỷ XX, quyền công dân đƣợc ghi nhận trong pháp luật quốc gia với tƣ cách là sự thể hiện các nội dung và quyền con ngƣời về quyền dân sự và chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa theo các Công ƣớc về quyền dân sự và chính trị, Công ƣớc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, 1976. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tới thời điểm hiện nay, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi chế độ chính trị khác nhau mà hệ thống các quyền công dân đƣợc thể hiện ở những mức độ khác nhau.
Tuy nhiên xã hội càng phát triển vấn đề quyền công dân càng đƣợc coi trọng và bảo vệ. Đặc biệt với các nƣớc hiện nay đang tiến hành xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền và xã hội công dân, thì vấn đề bảo đảm quyền công dân rất đƣợc coi trọng. Tại Việt Nam, vấn đề quyền công dân lần đầu tiên đƣợc ghi nhận một cách cụ thể nhất tại Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Nhà nƣớc ta đã đƣợc Quốc hội thông qua. Với Hiến pháp năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, những ngƣời dân nô lệ trƣớc đây thực sự trở thành ngƣời chủ của đất nƣớc, đƣợc bảo đảm các quyền tự do, dân chủ trên nhiều phƣơng diện.
Hiến pháp năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam đƣợc bảo đảm các quyền tự do, dân chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng của công dân trƣớc pháp luật đƣợc ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc. Và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ đƣợc ngang quyền với nam giới về mọi phƣơng diện. Kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân, Hiến pháp năm 1959 đã có những bƣớc phát triển mới trong việc quy định cụ thể hơn các quyền công dân đồng thời bổ sung thêm một số quyền công dân mới.
Các quyền của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến pháp 1959 bao gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, quyền tự do tín ngƣỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền tự do đi lại cƣ trú. Hiến pháp 1959 đã ghi nhận những thành tựu mới của Nhà nƣớc dân chủ nhân dân trong việc hình thành và phát triển quan hệ lao động mới. Đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc không những quy định lao động là cơ sở phát triển kinh tế của đất nƣớc, cơ sở nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân mà còn quy định đó là nghĩa vụ và danh dự của công dân (Điều 21 và Điều 32). Bằng quan điểm đó Hiến pháp 1959 đã xác định một quan điểm mới về lao động, với quan điểm này nhân dân Việt Nam vốn dĩ cần cù, sáng tạo phát triển, thêm tƣ chất đạo đức tốt đẹp của mình, coi lao động không những là nguồn gốc của cải xã hội, mà còn là nhu cầu của đời sống tinh thần của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân.
Ngoài những quyền mà Hiến pháp 1946 quy định, Hiến pháp năm 1959 quy định thêm nhiều quyền mới nhƣ quyền của ngƣời lao động đƣợc giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động (Điều 32); quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác (Điều 34); quyền khiếu nại tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nƣớc nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nƣớc (Điều 29). Với sự ra đời Hiến pháp 1980 - bản Hiến pháp thứ ba và là Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thứ hai của nƣớc ta, các quy định về các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân cùng với các bảo đảm pháp lí từng bƣớc cải thiện đáng kể. So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đã quy định thêm một số quyền mới của công dân nhƣ quyền tham gia quản lý các công việc của Nhà nƣớc và xã hội (Điều 56); Quyền khám và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61); Quyền có nhà ở (Điều 62); Quyền đƣợc học tập không phải trả tiền (Điều 60); Quyền của xã viên hợp tác xã đƣợc hƣởng phụ cấp khi sinh đẻ (Điều 63)… Mặc dù, có những hạn chế nhƣng so với Hiến pháp năm 1946 và 1959 nhƣng quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1980 vẫn là một bƣớc phát triển mới phong phú hơn, cụ thể hơn, rõ nét hơn. Tại bản Hiến pháp 1992 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì phần lớn các quy định về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân đƣợc ghi nhận ở Hiến pháp 1980 đã đƣợc sửa đổi, mở rộng và quy định cụ thể hơn, đồng thời ghi nhận thêm những quyền mới nhằm đáp ứng nhu cầu của việc mở rộng hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Có thể nói so với các bản Hiến pháp trƣớc, nhóm các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến pháp 1992 đó có bƣớc phát triển đáng kể và tƣơng đối hoàn thiện, thể hiện một quá trình phát triển liên tục về phƣơng diện chính trị, pháp lí cũng nhƣ về phƣơng diện kĩ thuật lập hiến Việt Nam. Hiến pháp nƣớc CHXHCN Việt Nam năm 2013 đƣợc Quốc hội (khóa XIII) thông qua tại kỳ họp thứ 6, gồm 11 chƣơng, 120 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, giảm 01 chƣơng và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 2013 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con ngƣời. Nếu nhƣ Hiến pháp năm 1992 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đƣợc tại chƣơng V thì ở Hiến pháp năm 2013 chƣơng về quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chƣơng II, chỉ xếp sau chƣơng về chế độ chính trị.
Đây không phải là sự ngẫu nhiên hoặc cơ học mà đây là một điểm mới, thể hiện tầm quan trọng của quyền con ngƣời trong Hiến pháp. Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo đảm thực hiện quyền con ngƣời, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nƣớc ta. Về tên chƣơng cũng có sự thay đổi, nếu nhƣ ở Hiến pháp năm 1992 là "Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân", đến Hiến pháp năm 2013 chƣơng này có tên là "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân". Qua đó để khẳng định quyền con ngƣời đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo vệ theo Công ƣớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
So với Hiến pháp năm 1992 thì Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền con ngƣời, quyền công dân chỉ sẽ hạn chế trong một số trƣờng hợp nhất định, tránh tình trạng xâm phạm quyền con ngƣời, quyền công dân. Ngoài một số nội dung cơ bản trên, Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân đã quy định rõ ràng, cụ thể và bổ sung đầy đủ hơn so với Hiến pháp năm 1992 nhƣ gộp các Điều 65, 66, 67 và bổ sung thêm một số nội dung thành Điều 37 Hiến pháp năm 2013; tách Điều 53 Hiến pháp năm 1992 quy định về công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nƣớc trƣng cầu ý dân thành Điều 29 Hiến pháp năm 2013: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Về cách thức thể hiện, Hiến pháp năm 2013 có sự đổi mới quan trọng theo hƣớng ghi nhận mọi ngƣời có quyền, công dân có quyền và quyền con ngƣời là quyền tự nhiên, bất cứ ai cũng cũng có quyền đó; quyền công dân là quyền của ngƣời có quốc tịch Việt Nam… Để mọi ngƣời, công dân thực hiện quyền của mình thì Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nƣớc là phải ban hành văn bản pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi ngƣời và công dân thực hiện đầy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đủ các quyền của mình.