Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay. Đây là giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người. Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế [22] Là thành viên của các Công ước Quốc Tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình đồng thời chủ động hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người.
Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sỹ ngày 08/5/2009 cũng khẳng định: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người”. Do đó, chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS. TTHS là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Trong đó giai đoạn khởi tố là giai đoạn đầu tiên của TTHS.
Tại giai đoạn này sau khi tiếp nhận tin báo và tố giác tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn điều tra là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án có trách 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệm và nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án Giai đoạn truy tố là giai đoạn VKS ra quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng hay không truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án; Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn Tòa án thụ lý, nghiên cứu hồ sơ để tiến hành giải quyết vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định. Giai đoạn xét xử phúc thẩm là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo; Giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS. Trong giai đoạn này các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, còn có thể có giai đoạn đặc biệt là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo các thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến mục đích chung là giải quyết mọi vấn đề của vụ án hình sự. Mỗi giai đoạn tuy độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một trình tự thống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Mỗi giai đoạn tố tụng do một chủ thể thực hiện nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối hợp vừa kiểm soát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Việc giải quyết đó chính là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) và người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm).
[10] Như vậy, hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước sự xâm phạm của tội phạm. Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, TTHS với tư cách là quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện tội 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, với sự thiếu bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS, trong đó người bị buộc tội luôn bị yếu thế hơn. Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội. Vì vậy, để đạt được mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS của bất kỳ quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân.
Hay nói cách khác, khả năng ảnh hưởng của hoạt động TTHS tới các quyền con người của người bị tình nghi phạm tội là tất yếu. Do đó, hoạt động TTHS trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm “nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người. Trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến những quyền con người cơ bản như quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện. Cho nên khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người ta thường bắt đầu từ lĩnh vực TTHS.
Trong những năm qua, hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS nhìn chung đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại, vi phạm trong việc bắt người, giam, giữ, khám xét .; vẫn còn tình trạng xét xử oan sai chưa đúng người, đúng tội. Tình trạng đó trước hết sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi rất quan trọng và cơ bản. Không những thế nó còn có thể tạo ra những bức xúc trong xã hội.
Một số phần tử phản động nhân cơ hội này, khoác thêm lớp áo “Nhân quyền” thổi phồng, xuyên tạc, hư cấu thêm sự việc để kích động, lôi kéo, kêu gọi nhân dân chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đây là những hậu quả rất nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục. Cho nên, bảo đảm quyền con người 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong hoạt động TTHS cần được quan tâm ở mọi góc độ. Việc ban hành các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện các quy định đó trong thực tế.
Việc thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các chủ thể tiến hành tố tụng trong đó Tòa án đóng vai trò trọng tâm. Với hoạt động xét xử và bản án được thông qua tại phiên tòa, mọi nghi ngờ, mọi vấn đề sẽ được làm sáng rõ từ nội dung vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo. Nếu có một phiên tòa công bằng, mọi vi phạm quyền con người trong các giai đoạn trước đó (nếu có) sẽ được phán xử và có những chế tài phù hợp. Ngược lại, nếu phiên tòa đó không đảm bảo, thì sai lầm sẽ nối tiếp sai lầm và kết thúc bằng một sai lầm.
Hoặc nếu như những quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giai đoạn xét xử lại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai. Do đó, ta có thể coi, Tòa án là cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo. Từ những sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét xử. Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa án.
Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS Trong lĩnh vực TTHS, khi quyền lực cưỡng chế của nhà nước bị lạm dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao. Có nhiều quyền con người có thể bị tác động trong lĩnh vực này, tuy nhiên trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập đến những quyền bị tác động tương đối phổ biến nhất, đó là các quyền sau đây: 1. Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”, sau đó được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “ 1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân.
Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do.