CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHỤC HỒI DANH DỰ, QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI BỊ OAN 1. Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan 1. Khái niệm oan, sai trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Theo Đại từ điển Tiếng việt (Nguyễn Như Ý (chủ biên), NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, năm 1998, trang 1269.) oan có nghĩa là “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”. Trên cơ sở này, khái niệm “oan” trong tố tụng hình sự (TTHS) gồm những nội dung sau: Thứ nhất, công dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết thời hạn tạm giam, tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi của người đó không cấu thành tội phạm (CTTP).
Thứ hai, công dân đã bị truy tố ra Toà án để xét xử nhưng Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ, tuyên bị cáo không có tội. Thứ ba, công dân bị truy tố, xét xử, kết án theo một tội danh nặng hơn so với tội danh trên thực tế đã phạm và bản án đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn. Theo từ điển tiếng Việt thì từ “sai’’ được hiểu là “không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi”. Theo đó trong TTHS, việc giải quyết vụ án sai là trường hợp các CQTHTT giải quyết vụ án được giao một cách không khách quan, trái với những quy định của pháp luật.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Oan và sai trong TTHS là hai hiện tượng hoàn toàn khác nhau, nhưng có mối quan hệ với nhau: việc làm oan người vô tội luôn luôn là hệ quả của hành vi trái (sai) pháp luật, còn sai được hiểu là tính chất của hoạt động hoặc chất lượng giải quyết vụ án hình sự của CQTHTT. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp hành vi sai pháp luật của CQTHTT không dẫn đến việc làm oan người vô tội. Chẳng hạn: Trong quá trình điều tra, điều tra viên đã hỏi cung bị can không đúng quy định của luật TTHS (hỏi cung ban đêm.) hoặc do thiếu trách nhiệm trong việc đánh giá chứng cứ của vụ án, Thẩm phán đã áp dụng điều luật quy định tội phạm của Bộ luật hình sự không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Những trường hợp sai này không thuộc nội hàm khái niệm oan.
Do đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng không được đồng nhất “oan” và “sai” với nhau và không nên dùng cụm từ “oan sai” mà chỉ sử dụng cụm từ “oan, sai” hoặc oan, sai độc lập trong những tình huống thích hợp. Sự nhầm lẫn trên mặc dù chỉ là về mặt ngôn ngữ, nhưng trong khoa học pháp lý thì ngôn ngữ pháp lý phải được sử dụng một cách chính xác. Đặc biệt, CQTHTT và người tiến hành tố tụng không được phép đồng nhất hai khái niệm này với nhau, vì họ là những chủ thể tiêu biểu mang trong mình yếu tố văn hoá pháp lý của một quốc gia [29]. Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và ở một chừng mực nhất định quy định các nội dung “oan” trong TTHS.
Tại Trung Quốc, các trường hợp sau được coi là oan: (I) Người bị tình nghi phạm tội bị bắt giữ nhưng chưa có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có những chứng cứ thực tế là phạm tội; (II) Người chưa thực sự phạm tội nhưng đã bị giam giữ; (III) Người đã chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên nhưng sau đó được xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát xét xử là vô tội. Theo Bộ luật Hình sự Cộng hoà Liên bang Nga, thì các trường hợp sau được coi là oan: (I) Một người rõ ràng là không có tội nhưng đã bị người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự; (II) Một người bị tình nghi phạm tội hoặc bị tố cáo là đã thực hiện hành vi phạm tội bị Kiểm sát viên hoặc người tiến hành điều tra sơ bộ truy cứu trách nhiệm hình sự trái pháp luật; (III) Một người bị bắt giữ trái pháp luật. Nhìn chung, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không đưa ra một khái niệm chung về “oan” trong TTHS, chỉ nêu các trường hợp cụ thể được coi là oan. Theo tác giả đây là một cách tiếp cận hợp lý, vì việc thừa nhận trường hợp nào được coi là oan liên quan đến cả vấn đề bồi thường thiệt hại, nên tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi nước, ở mỗi thời kỳ nhất định mà pháp luật quy định cụ thể các trường hợp được coi là oan, từ đó đưa ra một cơ chế minh oan mang tính khả thi.
Xuất phát từ nhận thức trên, căn cứ vào đặc điểm của từng thời kỳ, pháp luật Việt Nam có những văn bản quy định khác nhau về các trường hợp bị oan, cụ thể: Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11, Điều 1 đưa ra năm trường hợp được bồi thường thiệt hại, bao gồm: (I) người bị tạm giữ có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì họ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào; (II) người bị tạm giam khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; (III) người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; (iv) người bị khởi tố, truy tố, xét xử, nếu trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự không bị tạm giữ, không bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định họ không thực hiện hành vi phạm tội; (v) những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 388 nếu có tài sản bị thu giữ, tạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại”. Như vậy, theo quy định của Nghị quyết 388 thì có bảy đối tượng được bồi thường thiệt hại và được coi là oan bao gồm: người bị tạm giữ oan do không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào và người bị tạm giam, bị chấp hành hình phạt, bị kết án tử hình, bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, Điều 2 Nghị quyết 388 quy định bốn trường hợp không được bồi thường thiệt hại, gồm có: Một là, người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Điều 25 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá”. Ngoài quy định này, Bộ luật hình sự còn có một số quy định khác về miễn trách nhiệm hình sự “người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm về tội định phạm” (Điều 19); “Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (khoản 2 Điều 69). Hai là, người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với quy định của BLHS năm 1985, nhưng nay theo quy định của BLHS năm 1999 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba là, những người thuộc trường hợp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết 388 mà cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm, thì không được bồi thường thiệt hại. Bốn là, những người thuộc các trường hợp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này mà bị tổn hại về sức khoẻ, tính mạng, tài sản do lỗi của chính mình hoặc do sự kiện bất khả kháng thì không được bồi thường thiệt hại đó.