phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc tòa án trong tố tụng hình sự Chƣơng 2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Tòa án Chƣơng 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc Tòa án 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƢỚC TÒA ÁN 1.
Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trƣớc tòa án 1. Khái niệm Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng, nên bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền).
“Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền). Pháp luật là hệ thống các quy tắc điều chỉnh quan hệ xã hội, là công cụ quản lý của nhà nước, đồng thời còn là chỗ dựa cho người dân, để họ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chống lại các hành vi vi phạm. Vì vậy, bình đẳng trước pháp luật là quyền của công dân mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền đó trong thực tế. Tòa án là cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp trong xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật thông qua hoạt động xét xử bằng việc ra bản án hoặc quyết định.
Hoạt động của Tòa án đòi hỏi phải khách quan, công minh, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật để bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều được xử lý, đồng thời không làm oan người vô tội. Để mục tiêu này 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở thành hiện thực trong thực tế thì Tòa án cần phải đảm bảo quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng trước tòa. Với ý nghĩa đó thì bình đẳng trước tòa án luôn được coi là nguyên tắc cơ bản bảo đảm quá trình xét xử diễn ra công bằng, khách quan, chính xác: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước tòa án và cơ quan tài phán”(Điều 14-Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị). Những tuyên ngôn trên chính là những lời cam kết và là sự công nhận của các quốc gia, các dân tộc tiến bộ trên thế giới về quyền bình đẳng của con người trước tòa án, trước pháp luật.
Điều đó chứng tỏ, quyền bình đẳng trước Tòa án là một trong những quyền cơ bản của con người, được toàn thế giới công nhận và bảo đảm để quyền đó được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh. Hiến pháp và pháp luật nước ta đã ghi nhận bình đẳng trước tòa án, bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của con người “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”(Điều 52-Hiến pháp 1992), “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”(Điều 5-Bộ luật tố tụng hình sự 2003). Ở nhà nước ta các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đều xác định vị trí bình đẳng của các công dân không có sự phân biệt.
Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là: khi tham gia tố tụng hình sự mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Trong cùng một vai trò của người tham gia tố tụng như: bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có quyền và nghĩa vụ như nhau do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai được loại trừ hoặc được áp dụng những ưu đãi ngoài quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án đều phải theo một trình tự, thủ tục thống nhất theo quy định của pháp luật tố 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tụng hình sự.
Tính thống nhất thể hiện ở việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục chung trên toàn quốc và đối với tất cả những người tham gia tố tụng ở tất cả các vụ án khác nhau theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đối với các thủ tục đặc biệt, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với đối tượng và trong phạm vi luật định, bất kỳ ai, bất kỳ vụ án nào có đủ điều kiện luật định trong trường hợp đặc biệt thì mới áp dụng thủ tục đặc biệt. Bất kỳ ai phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự không phân biệt địa vị, đẳng cấp, giới tính, tôn giáo. Bình đẳng trước pháp luật là quyền bình đẳng của công dân trước sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, còn bình đẳng trước Tòa án là quyền bình đẳng của công dân trước một cơ quan nhà nước cụ thể, cơ quan thực hiện chức năng xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, xét xử là hoạt động trọng tâm và Tòa án có vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án là yêu cầu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất trong cả quá trình tố tụng. Nghị Quyết số 49 NQ/TW của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nhận định: “Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”. Điều 9 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 khẳng định “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Việc một người bị khởi tố, điều tra, truy tố trước Tòa án chưa thể kết luận người đó có tội và chưa thể áp dụng trách nhiệm hình sự. Thời điểm thực hiện trách nhiệm hình sự khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền nhân danh nhà nước tuyên bố một người là có tội và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ. Thẩm quyền đó được thực hiện chỉ sau khi thông qua hoạt động xét xử, bằng việc xem xét toàn bộ các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa và dựa vào các quy định của pháp luật, Tòa án mới có căn cứ phán quyết cuối cùng một người có phải là tội phạm hay không. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, hoạt động xét xử chính là hoạt động trọng tâm của tố tụng hình sự và tòa án có vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng.
Và nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, vừa bảo đảm quyền cơ bản của con người đồng thời giúp cho việc giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội. Với ý nghĩa quan trọng đó, Bộ luật tố tụng hình sự ghi nhận: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án ”(Điều 19- Bộ luật tố tụng hình sự 2003). Quyền bình đẳng ở đây được xem xét trên hai phương diện: Thứ nhất, trong cùng một vai trò khi tham gia tố tụng thì quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng là như nhau.
Ví dụ, cùng là bị cáo trong vụ án, không thể có việc bị cáo này được quyền xuất trình chứng cứ, được quyền đưa ra yêu cầu và tranh luận trước tòa án, còn bị cáo khác lại không được hưởng các quyền đó. Thứ hai, đối với các vai trò khác nhau khi tham gia tố tụng: dù là đại diện cho nhà nước thực hiện chức năng buộc tội (Kiểm sát viên) hay bên gỡ tội (bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa) và những người tham gia tố tụng khác thì họ cũng đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Nội dung của nguyên tắc này là phải đảm bảo quyền bình đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu theo quy định của pháp luật. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự luật định, được dùng làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Nếu không đảm bảo quyền bình đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ sẽ dẫn đến tình trạng nhiều chứng cứ buộc tội, xét xử phiến diện không khách quan chính xác. Tại phiên tòa các bên có quyền bình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ, được đưa ra các yêu cầu làm rõ các chứng cứ đã thu thập được và yêu cầu thu thập thêm chứng cứ mới. Ngoài ra, khi tham gia phiên tòa các bên có quyền yêu cầu Tòa án bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, nếu như quyền lợi của họ bị xâm phạm. Tại phiên tòa các bên có quyền bình đẳng trong tranh luận và được Tòa án bảo đảm quyền bình đẳng ấy.