Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền bị cáo trong hoạt động xét xử. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm quyền con ngƣời và quyền con ngƣời của bị cáo 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố). Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu.
Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người. Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights) [25, tr. Một nét riêng biệt trong khái niệm về quyền con người là quyền con người thuộc về cá nhân với tư cách một con người, người mà sẽ không thể bị 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tước bỏ bản chất của họ trong bất kỳ hoàn cảnh nào; Vì vậy, những quyền này thuộc về bản chất bên trong của trạng thái con người.
Quyền con người được các quốc gia công nhận đối với tất cả mọi cá nhân. Nguyên tắc phổ quát và không thể chuyển nhượng của nhân quyền vì thế được khẳng định vững chắc trong luật pháp nhân quyền quốc tế. Quyền con người là đặc tính cố hữu của các thành viên trong thế giới loài người. Quyền con người mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng [38, tr.
Một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu tại Việt Nam đã nêu ra những định nghĩa khác nhau về quyền con người “quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”. Có thể nói QCN là các chuẩn mực được công đồng Quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Các chuẩn mực này được kết tinh từ các giá trị nhân văn của toàn nhân loại, nó giúp cho mọi người được bảo đảm, được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ năng lực cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù hiện nay cách nhìn nhận tại các quốc gia, các khu vực, các tổ chức trên thế giới có những khác biệt nhất định, nhưng một điều rõ ràng là QCN là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi quốc gia, mọi xã hội, mọi chế độ chính trị và trong các giai đoạn lịch sử phát triển của nhân loại.
Khái niệm quyền con người của bị cáo Quyền con người là một trong các quyền quan trọng nhất được pháp luật bảo đảm thực hiện và bảo vệ không bị xâm phạm Quyền của bị cáo là những giá trị, nhu cầu và lợi ích vốn có của bị cáo được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong giai đoạn xét xử. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền con người, quyền công dân là một nội dung lớn của thế giới từ xưa đến nay. Đây là giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; Là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc, tôn giáo trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người. Quyền con người là nhận thức, là quan điểm mà các nước thừa nhận và phản ánh vào pháp luật quốc gia.
Đây là hướng đi tất yếu của xã hội nhằm tạo ra cơ chế bảo đảm thực thi QCN. Việt Nam là một thành viên của Liên Hợp Quốc và là thành viên của các Công ước Quốc tế về QCN. Chúng ta đã và đang thực hiện các giải pháp để đảm bảo quyền con người. Chúng ta tích cực, chủ động tham gia hợp tác với các tổ chức quốc tế trên các lĩnh vực để nhằm hoàn thiện và phát triển các quy định pháp luật của Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực Quốc tế về quyền con người.
Báo cáo kiểm điểm của Việt Nam trình Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 08 tháng 5 năm 2009 tại Genver Thụy Sỹ khẳng định “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người”. Việt Nam cần tích cực bảo vệ thành quả này trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự. Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can để điều tra.
Ở giai đoạn này, cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, tiến hành kiểm tra, xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Sau khi khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền điều tra có trách nhiệm, nghĩa vụ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết theo luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật quy định để thu thập chứng cứ nhằm xác định tội phạm, người phạm tội. Hết giai đoạn điều tra là giai đoạn truy tố của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tại giai đoạn này VKS ra quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng hay không truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án.
Tiếp theo là giai đoạn xét xử sơ thẩm, lúc này Tòa án thụ lý, nghiên cứu hồ sơ để tiến hành giải quyết vụ án bằng việc xét xử, ra bản án hoặc các quyết định. Các giai đoạn cho dù khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích chung là giải quyết các vấn đề của vụ án hình sự. Các giai đoạn tuy độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một trình tự thống nhất; giai đoạn trước làm cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và giai đoạn sau kiểm tra lại từng bước giai đoạn trước. Chủ thể thực hiện của từ giai đoạn thuộc các cơ quan khác nhau, chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ và kiểm soát lẫn nhau.
Đây là sự hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng của ba cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Như vậy, hoạt động tố tụng hình sự trước hết bảo vệ quyền lợi cho những người bị hại trước sự xâm phạm của tội phạm. Ở góc độ khác, TTHS được nhìn nhận là quá trình Nhà nước đưa một người phạm tội xử lý trước pháp luật. Khi thực hiện vấn đề này nó luôn thể hiện tính quyền lực, sức mạnh cưỡng chế Nhà nước.
Sự thiếu bình đẳng về thế và lực giữa người tiến hành tố tụng và các bên tham gia quan hệ TTHS thể hiện rõ ràng, đặc biệt những người bị buộc tội luôn bị yếu thế. Do đó, để đạt được mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS đều có những quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng bên cạnh các quy định xử lý trách nhiệm đối với các hành vi, quyết định tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Nói cách khác, các ảnh hưởng của hoạt động TTHS của cơ quan và người có thẩm quyền tới các quyền con người của bị can, bị cáo là tất yếu. Do đó, các hoạt động TTHS được xem là nhóm “nguy cơ cao” khi nói đến vấn đề bảo vệ nhân quyền.
Trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội, quyền của bị cáo dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến những quyền con người cơ bản như: Quyền sống, quyền tự do đi lại, quyền được suy đoán vô tội, quyền được xét xử nhanh chóng và công bằng, quyền bào chữa, quyền tranh luận. Cho nên khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người ta thường hướng vào lĩnh vực TTHS đặc biệt thể hiện rõ ràng nhất là tại các phiên tòa xét xử công khai. Tại Việt nam, văn bản pháp luật có giá trị cao nhất Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN… là một trong những nhiệm vụ chính. Tòa án bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung thông qua hoạt động xét xử, rõ nét nhất là trong vụ án hình sự.
Theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, bị can sẽ được gọi là bị cáo từ khi có quyết định xét xử, kể cả khi có cáo trạng truy tố và hồ sơ đã chuyển sang tòa nghiên cứu thì trong thời gian này vẫn gọi là bị can. Theo Bộ luật tố tụng năm 2015 có quy định thêm việc bị cáo là pháp nhân.