Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƢƠNG SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƢƠNG SỰ 1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự “Nguyên tắc”trong tiếng Việt đƣợc hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo” [32, tr. Nếu xem xét khái niệm “nguyên tắc” từ phƣơng diện lý luận về nhận thức thì “nguyên tắc” là “kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu” và “nguyên tắc không phải là được áp dụng vào giới tự nhiên và lịch sử loài người.
Không phải giới tự nhiên và lịch sử loài người thích ứng với các nguyên tắc, mà ngược lại nguyên tắc chỉ đúng khi nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử” [15, tr. Mặt khác, nguyên tắc là kết quả của quá trình nhận thức, nghiên cứu thực tiễn khách quan, là sự phản ánh của các quy luật, bản chất của thực tiễn khách quan. Nguyên tắc chính là những tƣ tƣởng mang tính chất xuất phát điểm thể hiện bản chất của một lĩnh vực hoạt động nhất định và chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của lĩnh vực đó. Do vậy, “nguyên tắc” trở thành những yêu cầu bắt buộc, chỉ đạo một lĩnh vực hoạt động nhất định của con ngƣời.
Trong khoa học pháp lý, hầu hết các nhà khoa học pháp lí xã hội chủ nghĩa đều coi bản chất của nguyên tắc pháp luật nói chung và nguyên tắc cơ bản của TTDS nói riêng là những tƣ tƣởng pháp lý chỉ đạo cho việc xây dựng và thi hành pháp luật. Giáo trình Luật TTDS Việt Nam năm 2012 của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã trình bày một định nghĩa về nguyên tắc của Luật TTDS Việt Nam nhƣ sau: “Nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và được ghi nhận trong các văn bản tố tụng dân sự” [33, tr. Trong luận văn thạc sĩ “Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn Cung cũng đƣa ra khái niệm các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam, đó là: “Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo mang tính chất xuất phát điểm, phản ánh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bản chất và những đặc trưng cơ bản của Tố tụng dân sự, được quán triệt trong nội dung của các chế định, quy phạm pháp luật Tố tụng dân sự, quy định kết cấu của toàn bộ quy trình tố tụng dân sự và thể hiện phương hướng và cách thức thực hiện mục đích nhiệm vụ của Tố tụng dân sự Việt Nam” [4, tr. “Quyền” trong tiếng Việt là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [32, tr.
Theo khoa học pháp lý “quyền công dân được hiểu là những khả năng mà nhà nước cho phép công dân hành động hay không hành động hoặc được hưởng những lợi ích chính đáng trong xã hội” [34, tr. “Lợi ích” là “điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy” [32, tr. Quyền và lợi ích là một phạm trù mang tính xã hội và cũng mang tính pháp lý. Nó thể hiện bản chất của nhà nƣớc và mối quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân.
Trong đó, nhà nƣớc ghi nhận các quyền công dân trong các văn bản quy phạm pháp luật và đảm bảo cho các quyền này đƣợc thực hiện trên thực tế. “Bảo vệ” là “chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn” [32, tr. “Bảo đảm” trong tiếng Việt là “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc thực hiện được, hoặc có được những gì cần thiết” [32, tr. Vì vậy, bảo đảm là điều kiện cần phải có để thực hiện đƣợc một điều gì, một công việc gì hay là điều kiện để thực hiện đƣợc quyền, nghĩa vụ nào đó.
Bảo đảm cũng có ý nghĩa nhƣ một cơ chế cần thiết phải có để thực hiện những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền, nghĩa vụ hay công việc nhất định. Trong những trƣờng hợp cụ thể, nếu không có sự bảo đảm thì các quyền, nghĩa vụ hay công việc sẽ không đƣợc thực hiện. Nhƣ vậy, bảo đảm quyền bảo vệ trong TTDS là làm cho chủ thể có đủ những điều kiện cần thiết để chắc chắn họ thực hiện đƣợc các quyền bảo vệ quyền và lợi ích của họ trƣớc Tòa án. Đƣơng sự đƣợc hiểu là “người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết” [32, tr.
Theo pháp luật TTDS, khái niệm đƣơng sự đƣợc quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS 2004: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Theo giáo trình Luật TTDS của trƣờng Đại học Luật Hà Nội 2012 định nghĩa thì: “Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự” [33, tr. Nhƣ vậy, có thể thấy thành phần đƣơng sự trong vụ việc TTDS bao gồm tất cả những ngƣời có quyền, nghĩa vụ đƣợc xem xét trong vụ việc vì có liên quan đến vụ việc. Do đó, thành phần đƣơng sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, ngƣời yêu cầu, ngƣời bị yêu cầu, ngƣời có liên quan trong việc dân sự.
Từ những vấn đề nêu trên có thể kết luận: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là một nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS Việt Nam, thể hiện tư tưởng pháp lý chỉ đạo là trong TTDS Tòa án phải làm cho đương sự có đủ những điều kiện cần thiết để đương sự chắc chắn thực hiện được các quyền TTDS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự là một trong những nguyên tắc cơ bản đƣợc ghi nhận trong BLTTDS nên ngoài những ý nghĩa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chung của các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS nhƣ là cơ sở cho xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự, thì nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự còn có những ý nghĩa khác, cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS thực chất là thực hiện các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để tạo điều kiện cho tất cả các đƣơng sự thực hiện đƣợc các quyền TTDS của họ và tạo điều kiện cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng bảo vệ đƣợc quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự. Vì vậy, đảm bảo quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện dân chủ trong TTDS.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS yêu cầu Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho đƣơng sự có thể thực hiện đầy đủ các quyền của họ trƣớc Tòa, nhƣ quyền tự bảo vệ hoặc quyền nhờ luật sƣ hay ngƣời khác có đủ điều kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Nhƣ vậy, nguyên tắc này đƣợc thực hiện một cách đầy đủ thì quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự đƣợc bảo đảm trong mọi giai đoạn của TTDS. Ngoài ra, bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS giúp đƣơng sự bảo vệ đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của họ trƣớc Tòa án nên góp phần thực hiện thắng lợi chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Thứ hai, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội, trong đó yêu cầu mọi cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nƣớc, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác; các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn đƣợc tôn trọng và bảo vệ. TTDS là một quá trình phức tạp, trong đó Tòa án có vai trò trung tâm trong 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc giải quyết các vụ việc dân sự. Trên thực tế, khi giải quyết vụ việc dân sự một số Tòa án vì lý do nào đó mà không vô tƣ khách quan làm cho các quyền tố tụng của đƣơng sự không đƣợc thực hiện trên thực tế. Việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS thì các quyền tố tụng của đƣơng sự đƣợc thực hiện đầy đủ và nhƣ vậy đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự. Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự yêu cầu: “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ”[24]. Nguyên tắc này đƣợc quán triệt trong mọi giai đoạn TTDS và là nguyên tắc cơ bản đƣợc ghi nhận trong BLTTDS. Nếu Tòa án không bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự hay nói cách khác là vi phạm nguyên tắc này thì bị xem là vi phạm nghiêm trọng tố tụng và có thể là cơ sở để Tòa án cấp trên xem xét sửa án hoặc hủy án.
Trong trƣờng hợp, quyền bảo vệ của đƣơng sự không đƣợc bảo đảm bởi Tòa án thì đƣơng sự có quyền khiếu nại, tố cáo. Chủ thể có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật và phải bồi thƣờng thiệt hại. Chính vì vậy, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS. CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƢƠNG SỰ 1.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đƣơng sự trong TTDS đƣợc quy định dựa trên những cơ sở lý luận sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ cơ sở Hiến định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án.