Chương 1: Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn về báo chí với vấn đề án oan sai Chương 3: Thực trạng vấn đề án oan sai trên báo chí hiện nay Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề án oan sai trên báo chí 21 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu trên thế giới liên quan đến đề tài luận án 1. Nghiên cứu lý luận về vai trò, chức năng, tác động của báo chí trong đời sống xã hội Đánh giá về vai trò của báo chí đối với xã hội, C.Mác - nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại đã khẳng định: “Xét theo sứ mệnh của nó, báo chí là người bảo vệ xã hội…”[55, tr. Nói về chức năng của báo chí đối với xã hội, Lênin - vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới, người đặt nền móng cho sự phát triển của báo chí cách mạng khẳng định: “Chúng tôi muốn biến các cơ quan báo chí của chúng tôi thành một diễn đàn mà toàn thể những người dân chủ - xã hội Nga có những quan điểm hết sức khác nhau, đều sử dụng để tranh luận về tất cả các vấn đề” [50, tr.
Với vai trò và chức năng đặc biệt quan trọng đó, nghiên cứu về truyền thông nói chung và báo chí nói riêng đã được các học giả trên thế giới đề cập từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt từ năm 1933 trở đi trên trên cả phương diện lý thuyết và thực nghiệm. Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về báo chí và vai trò của báo chí trong đời sống xã hội. Các quan niệm này đã có sự thay đổi theo thời gian khi có sự xuất hiện của các loại hình báo chí mới và mạng xã hội. Trong đó, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Robert K.Merton [136], nhà xã hội học người Mỹ, một trong những người sáng tạo nên lý thuyết cấu trúc - chức năng khẳng định trong bài viết Some social functions of the mass media (tạm dịch: Một số chức năng xã hội của truyền thông đại chúng) đã khẳng định: TTĐC thực hiện nhiều chức năng khác nhau.
Sự phân chia các loại chức năng báo chí của Merton không phải theo hệ thống hàng ngang, mang tính liệt kê, mà dựa vào góc độ tiếp cận để phát biểu. 22 Quan điểm về chức năng của TTĐC của ông có thể được mô phỏng theo sơ đồ sau: Bảng 1.1: Chức năng của TTĐC (phỏng theo quan điểm của Robert K.Merton, 1948) Chức năng của TTĐC Căn cứ trên cấu trúc về quyền sở hữu và điều hành đối với phương tiện Căn cứ trên thuộc tính truyền thông đại chúng Các yếu tố phản chức và bản chất thông tin ông đề xuất các chức năng như là sự gây mê mang tính tự thân của năng thuộc về nhận do tình trạng dư thừa các phương tiện truyền thức/tư tưởng như là thông tin và tính chất thông đại chúng ông thiết lập sự tuân thủ, hay thụ động ở người tiếp chỉ ra nhóm chức năng tác động đến thị hiếu đại nhận xã hội chúng mà báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng thực thi (Nguồn: Dẫn theo [136]) Merton có vai trò là người đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này về báo chí, ở phương diện chức năng của báo chí. Các lý thuyết, mô hình về hiệu quả/tác động của báo chí đối với công chúng cũng chịu ảnh hưởng rõ nét của Merton, ví dụ như: lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự, lý thuyết Đóng khung, Sử dụng và hài lòng. Theo quan điểm nghiên cứu của Lasswell, 1948; Zelitzer, 2004; McQuail, 2005 đã phân chia các chức năng của báo chí trong đời sống xã hội trên hai phương diện: chức năng cơ bản và chức năng trung gian trong xã hội (nhà báo được coi là trung gian giữa thông tin và công chúng), trong đó các chức năng này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau: 23 Bảng 1.2: Các chức năng cơ bản và trung gian của báo chí trong xã hội (phỏng theo quan điểm của Lasswell, 1948; Zelitzer, 2004; McQuail, 2005) Các chức năng cơ bản của báo chí Thông tin (Information) Cung cấp thông tin về các sự kiện/điều kiện trong xã hội, chỉ ra các mối quan hệ quyền lực, tạo điều kiện cho đổi mới, thích ứng, tiến bộ Giám sát Giúp công chúng giám sát những thay đổi/mối đe dọa (Surveillance) /cơ hội Tương quan (Correlation) Tham gia cùng công chúng trong việc ứng phó với các mối đe dọa/cơ hội thông qua giải thích các sự kiện, hỗ trợ các tiêu chuẩn đã thiết lập, xây dựng sự đồng thuận, ưu tiên các sự kiện Truyền tải hoặc tính liên tục Cho phép truyền di sản văn hóa và xã hội từ một thế hệ (Transmission or Continuity) này sang thế hệ khác, duy trì tính tương đồng của các giá trị Huy động (Mobilisation) Huy động mọi người tham gia vào chiến dịch / thay đổi xã hội vì các mục tiêu xã hội Giải trí (Entertainment) Cung cấp giải trí, sự chuyển hướng, một phương tiện thư giãn Các chức năng trung gian của báo chí Gương (Mirror) Phản ánh thực tế xã hội / những gì đang xảy ra Thùng chưa thông tin Giữ thông tin cho đến khi có thể đánh giá những gì đã (Container) xảy ra Trẻ (Child) Là người chăm sóc tin tức Dịch vụ (Service) Được tiến hành vì lợi ích công cộng Bộ lọc / Người gác cổng Lựa chọn các phần của kinh nghiệm để cung cấp cho (Filter/Gatekeeper) bạn đọc Cửa sổ (Window) Cho phép xem những gì đang diễn ra trong xã hội mà không bị can thiệp Phiên dịch (Interpreter) Chỉ đường / làm cho cảm giác khó hiểu Đối tác được thông báo Trả lời các câu hỏi theo cách gần như tương tác trong (Informed partner in cuộc trò chuyện conversation) Người phổ biến Truyền thông tin (Disseminator) Diễn đàn Là một nền tảng để trình bày các ý tưởng, thường có (Forum) các khả năng để trả lời (Nguồn: Dẫn theo [155]) 24 Lịch sử TTĐC có thể được coi là lịch sử của những cuộc tranh luận, thể hiện những quan điểm đa dạng và thay đổi liên quan đến vai trò của báo chí, nhà báo và đặc biệt là nhà báo điều tra trong xã hội.
Nó cũng là một lịch sử của những thay đổi, cả bên trong và bên ngoài đối với các phương tiện truyền thông (bao gồm những thay đổi về chính trị, xã hội, văn hóa và công nghệ) đã ảnh hưởng đến vai trò đó. Nếu như đầu thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng công chúng là thụ động và các nhà truyền thông có quyền “chích”, “tiêm” vào công chúng dễ dàng như một mũi thuốc (Học thuyết Mũi kim tiêm - Harold Lasswell) thì các tác giả của Trường Frankfurt (Frankfurt School) cho rằng truyền thông “chỉ là phương tiện nối dài sự thống trị tư bản chủ nghĩa với dân chúng”, và đó là “thứ ma túy làm cho mọi người không còn đầu óc phê phán” [Theo 72, tr. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XX, nhà nghiên cứu người Đức J.Habermas đã khẳng định, truyền thông (báo chí là chủ lực) “không còn là một lãnh địa dành riêng cho các nhà truyền thông hay các chuyên gia về truyền thông, mà là một nơi có mục tiêu thực hiện cùng một lúc hai chức năng: vừa là một nơi trình bày các kiến thức về xã hội con người, vừa là nơi diễn ra các mối quan hệ tiếp xúc, liên lạc giữa các tầng lớp, các khu vực, hay các nhóm xã hội” [Theo 72, tr. Năm 1972, Maxwell McCombs và Donald Shaw đã đưa ra các quan điểm có tính “bước ngoặt” khi đánh giá về chức năng của báo chí: Báo chí có thể không phải lúc nào cũng thành công trong việc nói cho mọi người biết phải nghĩ gì, nhưng báo chí lại cực kỳ thành công trong việc nói cho mọi người biết cần phải nghĩ về điều gì.
Cụ thể, McCombs và Shaw cho rằng, các phương tiện TTĐC có chức năng lập ra “chương trình nghị sự” cho công chúng, nghĩa là ấn định những nội dung mà công chúng theo dõi và bàn luận. Những nghiên cứu đánh giá về chức năng này của báo chí đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu của Báo chí học trong các giai đoạn khác nhau. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài tập trung vào một hoặc một số vai trò, chức năng quan trọng của báo chí, tiêu 25 biểu như: Nghiên cứu về chức năng tư tưởng của báo chí có công trình “Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới” (Trung Quốc) của Bùi Phương Dung xuất bản năm 2005; nghiên cứu về chức năng giám sát và phản biện xã hội có công trình: “Sự giám sát của phương tiện truyền thông đối với chính trị của các nhật báo và tuần báo ở Áo năm 1993” của tác giả Kern Christan, Đại học Tổng hợp Wien, Austria; “Giám sát của dư luận và phản biện báo chí” của Vương Cường Hoa (Trung Quốc) xuất bản năm 2004… Những công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng của báo chí đã khẳng định được vị trí của báo chí, truyền thông đối với đời sống xã hội, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn về báo chí, truyền thông trong những giai đoạn sau này. Nghiên cứu về cơ chế tác động của TTĐC, Harold Lasswell được xem là người đầu tiên bàn về cơ chế tác động của TTĐC thông qua công trình nghiên cứu “Propaganda Technique in the World War” (Kỹ thuật tuyên truyền trong chiến tranh thế giới) (1927).
Ông đã tiến hành nghiên cứu truyền thông qua việc phân tích thông điệp, qua đó, ông đã đưa ra mô hình truyền thông một chiều (1948): Nguồn phát (source) - Thông điệp (messgage) - Kênh (Channel) - Tiếp nhận (receiver) và đưa ra định nghĩa về phương pháp truyền thông: “Ai nói cái gì bằng kênh nào với ai với hiệu ứng thế nào” (Who says what in which channel to whom with what effect). Sau nghiên cứu của Harold Lasswell, Claude Shannon và Weaver (1949) đã đưa ra mô hình truyền thông hai chiều gồm 6 yếu tố: Nguồn (source) - Thông điệp (messgage) - Kênh truyền (channel) - Người nhận (receiver) - Sự phản hồi (feedback) - Tạp nhiễu (noise). Theo hai ông, thông điệp từ người gửi đến người nhận luôn có một rào cản chủ quan hoặc khách quan gọi là nhiễu. Đồng thời, trong quá trình truyền thông, chủ thể và khách thể được chuyển đổi một cách linh hoạt nhờ yếu tố phản hồi.