phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Khái quát về tình hình Phật giáo và phong trào Chấn hƣng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Từ việc khái quátnhững nội dung cơ bản của giáo lý Phật giáo,lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XX để làm rõ yêu cầu cần phải Chấn hưng Phật giáo. Trình bày những thành tựu, tác động của phong trào Chấn hưng Phật giáo về mặt nhận thức, tư tưởng đối với bộ phận tăng ni phật tử nói chung, đặc biệt là tầng lớp ni giới nói riêng. Chƣơng 2: Báo chí Phật giáo ở Việt Nam trƣớc năm 1945 Phục dựng khái quát vềlịch sử báo chí Việt Nam, báo chí Phật giáo trước năm 1945 thông qua các tài liệu nghiên cứu được. Trình bày sơ lược quan niệm của Phật giáo đối với những vấn đề của phụ nữ được đề cập.
Qua đó thấy rõ vấn đề phụ nữđược nói đến là một trong những nội dung quan trọng. Từ đó làm rõthái độ của báo chí Phật giáo với vấn đề nữ quyền. Chƣơng 3: Vấn đề phụ nữ trên báo chí Phật giáo ở Việt Nam trƣớc năm 1945 Dựa trên các tài liệu hiện có, trình bày một cách chi tiết một số vấn đề phụ nữ nổi bật trên các báo Phật giáo trước năm 1945. Qua đó làm rõ và đề cao vai trò của phụ nữ cũng như đóng góp của họ cho phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ và cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VÀ PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1 Sơ lƣợc về giáo lý Phật giáo Phật giáo là một hệ thống tư tưởng triết học cổ đại, một tôn giáo lớn được phát sinh từ vương quốc nhỏ ở lục địa Ấn Độ, dưới dãy Hy Mã Lạp Sơn vào khoảng thế kỳ VI trước công nguyên [15, tr.Tôn giáo lớn này đã tồn tại, bám rễ, ăn sâu vào đời sống của con người như một phần không thể thiếu. Có được điều đó, chính bởi giáo lý Phật giáo không cầu kỳ, không viển vông và cũng không ép buộc. Các phật tử hiện nay vẫn thường lấy lời của triếtgia Đức, Nít –sơ (P. Nietzch) để nói về sựso sánh giữa Phật giáo và Thiên chúa giáo: “Phật giáo trăm lần thực tế hơn là Thiên chúa giáo… Phật giáo không có lời cầu nguyện khấn vái, không ép xác khổ hạnh, không giáo điều và cuối cùng không có gì ép buộc, ngay cả trong tập thể riêng của họ cũng không có gì ép buộc.
Bởi vậy, Phật giáo không kích thích người ta làm chiến tranh chống các tôn giáo khác. Điều cảm động nhất, chính là ở chỗ giáo lý nhà Phật chống lại tư tưởng phục thù, hằn học, oán ghét”[15, tr. Giáo lý nhà Phật có thể gói gọn và xoay quanh hai thuyết lớn: Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Thứ nhất là Tứ diệu đế: bốn chân lý lớn: khổ, tập, diệt và đạo, là bốn điều chắc thật, diệu dụng và không ai có thể chối cãi được.
Đây là giáo lý cơ bản, lấy con người làm trung tâm và vì con người mà thực hiện. “Khổ đế” là chân lý lớn thứ nhất nói về sự khổ ở đời. Phật giáo cho rằng cuộc sống là đầy rẫy khổ não, đời là bể khổ, như sinh sống là có khổ, đau ốm là khổ, già nua là khổ, chết là khổ v.v…Những nỗi khổ ấy tràn ngập trên thế gian, trong cuộc sống của con người, của chúng sinh, làm cho chúng sinh chìm ngập trong nỗi khổ mênh mông như biển cả. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Tập” là chân lý nói về nguồn gốc của cái khổ.Tập có nghĩa là nhóm lại, gộp lại.
Vì vậy tập đế còn có nghĩa là tập hợp những lý do vì đâu có những nỗi khổ ấy? Con người và chúng sinh nói chung thấy khổ, biết khổ trong cuộc sống của mình, nhưng thực ra không biết được nguyên nhân sâu xa gây ra nỗi khổ của mình. Đức Phật đã chỉ rõ: do vô minh che lấp nên người đời không nhận ra thực tướng của vạn vật mà cứ tham đắm chạy theo cái hư ảo nên tạo ra nghiệp. Đó là nguyên nhân của đau khổ. “Diệt” chính là để nói về sự cần thiết phải làm mất nguyên nhân của cái khổ thì mới diệt được khổ một cách triệt để.Diệt tức là tịch diệt, nghĩa là không còn khổ lụy sinh tử luân hồi nữa.
Cuối cùng, “Đạo” chính là con đường dắt đến giải thoát mọi sự khổ.Đạo có tám ngả nên gọi là “bát chính”. Bát chính là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm và chính định.Chúng ta có thể thấy rằng, trong bát chính của Phật giáo không hề có chút nào là thần bí, không cầu cạnh vào bất cứ ai, mà dựa vào sự nỗ lực của bản thân con người bị khổ. Đó cũng là chủ trương của Phật giáo, là chân lý Phật giáo mà mỗi người phải tự nhận thức. Thứ hai là Thập nhị nhân duyên: hay Duyên khởi, là một giáo lý rất đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác.
Nó là cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo. Mười hai nhân duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng: chiều hướng sinh khởi và chiều hướng đoạn diệt: 1. Thập nhị nhân duyên ấy đều ở trong Tứ đế hoặc khai hoặc hợp mà ra, như là vô minh, hành, ái, thủ, hữu làm năm chi hợp thành Tập đế; thức, danh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sắc, lục nhập, xúc, thụ, sinh, lão tử, là bảy chi mở ra làm Khổ đế. Cái trí xem thấu cái lẽ sinh và diệt của nhân duyên là Đạo đế.
Dứt được hết cả mười hai nhân duyên là Diệt đế. Mười hai nhân duyên theo nhau liên tiếp như nước sông chảy, cho nên sách nhà Phật gọi là Duyên hà. Các nhân duyên tụ tập mà sinh ra mãi, gọi là Duyên hà mãn, nghĩa là sông duyên đầy tràn. Nếu cứ lần lượt dứt hết nhân duyên nọ đến nhân duyên kia, thì gọi là Duyên hà khuynh, nghĩa là sông Duyên nghiêng cạn.
Mười hai nhân duyên là một trong những giáo lý quan trọng trong hệ thống kinh điển của đạo Phật. Giáo lý này cũng giải thích và chứng minh luân hồi, nhưng chủ yếu đưa đến phương pháp giải thoát sinh tử. Chúng ta không chỉ hiểu mười hai nhân duyên theo "Tam thế lưỡng trùng nhân quả", trong đó các chi phần liên hệ nhau theo chiều thời gian; mà nên hiểu theo tinh thần "Trùng trùng duyên khởi"; các chi phần liên hệ chằng chịt tương hỗ lẫn nhau theo không và thời gian, trùng điệp vô thuỷ vô chung. Nét nổi bật trong Phật giáo là tạo cho con người niềm tin, động viên con người hãy tận dụng thời gian trong một đời người để nỗ lực tu tâm, tu thiện, tích đức, nhằm tiến đến giải thoát.
Như vậy, cơ sở tư tưởng và giáo lý cốt lõi của Phật giáo chính từ Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Thông qua hai thuyết này, Phật giáo muốn hướng con người tới việc thiện, tìm con đường để giải thoát con người khỏi khổ cực. Trong kinh điển của Phật giáo có ghi lời Đức Phật nói rằng: Đại dương dù có rộng lớn cũng chỉ có một vị, vị ấy là muối mặn. Giáo lý của Đức Phật cũng vậy, mặc dù những lời dạy của người cũng bao la như đại dương, nhưng cũng có một mục tiêu, đó là chấm dứt mọi đau khổ cho con người.
Đây cũng chính là vấn đề cơ bản được thể hiện một cách nhất quán trong giáo lý của Phật 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Giáo lý ấy hướng tới mọi tầng lớp trong xã hội, không phân biệt giới tính, đẳng cấp. Vì thế, tác động mạnh mẽ tới cái nhìn của Đức Phật đối với phụ nữ.Khái lƣợc lịch sử Phật giáoViệt Nam từ khởi thủy đến đầu thế kỷ XX Phật giáo du nhập vào Việt Nam có lẽ bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, thứ hai trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai (43-534) [24, tr. Trong điều kiện Việt Nam đang phải chịu sức ép của chính sách đồng hóa của nhà Hán, giáo lý nhà Phật với tư tưởng khoan dung, gần gũi với văn hóa và tín ngưỡng dân gian của người Việt đã nhanh chóng được người Việt đón nhận và trở thành bệ đỡ tinh thần trong công cuộc chống đồng hóa trong suốt thời kỳ Bắc thuộc. Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta là Luy Lâu do các thương gia Ấn Độ đem đến.
Những người này không phải là những nhà truyền giáo; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. Thông qua nguồn sử liệu hiện có, chúng ta có thể khẳng định rằng Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: Một là, con đường biển từ phương Nam Ấn Độ trực tiếp truyền sang; Hai là, con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống. Bằng con đường biển từ phương Nam, Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm và sớm hơn bằng con đường bộ từ phương Bắc. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong Phật giáo Việt Nam sử luận, tập 1, thì hồi ấy, các tu sĩ đi theo thuyền buôn Ấn Độ là những người đầu tiên truyền đạo Phật vào nước ta với tín ngưỡng đơn sơ: thờ Phật, đốt trầm, tụng kinh, chữa bệnh, trừ tà và bày phép cúng dường, bố thí cho dân bản địa cùng truyền pháp Tam quy Ngũ giới cho cư dân ở đây chứ chưa có sự truyền giảng kinh điển gì [24, tr.
Từ thế kỷ thứ 6, Phật giáo đã xác định được chỗ đứng khá vững chắc ở Việt Namvới người lãnh đạo phong trào đấu tranh chống lại cuộc xâm lược của Trần Bá Tiên tự coi mình là con Phật (Lý Phật Tử) và sự xuất hiện của chùa Khai quốc cùng với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân năm 545. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến khi nước ta giành độc lập, từ thời nhà Đinh, Phật giáođược truyền ra khắp cả nước. Lúc này vua Đinh Tiên Hoàng (968 - 980) mới định giai phẩm các tăng đạo.Sau khi nhà Ðinh mất ngôi, LêÐạiHành lên kế vị, kháng chiến chống quân Tống thắng lợi (980). Giai đoạn này, các vị tăngsĩ lại được biệt đãi hơn; vua LêÐạiHành thường triệu thỉnh các vị Tăngthống vào triều để bàn hỏi việc nước và khuyến khích việc truyền bá Phậtpháp.