Báo Chí Với Cuộc Vận Động Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam

Luận án tiến sĩ báo chí phân tích cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, khẳng định giá trị và tiềm năng sản phẩm nội địa.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

249
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CHÍ TRONG CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÃ HỘI

1.1. Thông điệp của báo chí trong các cuộc vận động xã hội

1.2. Nghiên cứu trên thế giới

1.3. Nghiên cứu tại Việt Nam

1.4. Cách đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội

1.4.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.4.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội đó

1.5.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.5.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

1.6. Nghiên cứu về cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"

1.6.1. Nghiên cứu về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” từ góc độ kinh tế học và xã hội học

1.6.2. Nghiên cứu từ góc độ báo chí học

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VỚI CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM”

2.1. Cơ sở lý luận báo chí truyền thông

2.2. Báo chí và vai trò trong đời sống xã hội

2.3. Khái niệm về truyền thông và hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội

2.4. Lý thuyết về hiệu quả truyền thông của báo chí

2.5. Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động báo chí trong các cuộc vận động xã hội

2.5.1. Quan điểm của Đảng về vai trò của báo chí trong xã hội

2.5.2. Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ của báo chí trong công tác tuyên truyền vận động

2.6. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

2.6.1. Bối cảnh của cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"

2.6.2. Công tác tuyên truyền cho cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

2.6.3. Ý nghĩa của cuộc vận động

2.6.4. Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM”

3.1. Thông điệp về cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" trên báo chí

3.2. Nguồn tin về cuộc vận động

3.3. Chủ đề của cuộc vận động trên báo chí

3.4. Hình thức thể loại tin bài về cuộc vận động trên báo chí

3.5. Tính chất thông điệp về cuộc vận động trên báo chí

3.6. Nội dung về cuộc vận động trong từng loại hình báo chí

3.7. Hiệu quả truyền thông của báo chí về cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"

3.7.1. Nhận thức của công chúng về cuộc vận động

3.7.2. Thái độ của công chúng đối với cuộc vận động

3.7.3. Hành vi của công chúng sau khi tiếp nhận thông điệp của cuộc vận động

3.7.4. Tính hiệu quả của báo chí trong hoạt động truyền thông cho cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

3.8. Hạn chế của báo chí trong việc chuyển tải thông điệp về cuộc vận động

3.8.1. Hạn chế trong việc khai thác nguồn tin

3.8.2. Hạn chế trong việc chuyển tải nội dung thông điệp

3.8.3. Hạn chế về hình thức thể hiện

3.9. Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong hoạt động truyền thông cho cuộc vận động của báo chí

3.10. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG "NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM"

4.1. Những vấn đề đặt ra về hiệu quả truyền thông của báo chí trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

4.2. Vấn đề thực hiện nhiệm vụ chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của cơ quan báo chí

4.3. Vấn đề năng lực nghiệp vụ của nhà báo khi phản ánh về cuộc vận động

4.4. Vấn đề đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng

4.5. Vai trò của ban chỉ đạo cuộc vận động trong công tác quản lý báo chí

4.6. Trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"

4.7. Một số giải pháp và khuyến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí trong các cuộc vận động xã hội

4.7.1. Giải pháp tổng thể quản trị quá trình truyền thông hiệu quả để đạt được mục đích của cuộc vận động

4.7.2. Các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí trong các cuộc vận động

4.8. Bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả nghiên cứu

4.9. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về báo chí và cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt Nam. Cuộc vận động 'Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam' được phát động nhằm khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm nội địa. Sự tham gia của báo chí không chỉ giúp truyền tải thông điệp mà còn tạo ra sự kết nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.

1.1. Vai trò của báo chí trong cuộc vận động

Báo chí là kênh thông tin chính thức, giúp truyền tải thông điệp của cuộc vận động đến đông đảo công chúng. Các bài viết, phỏng vấn và chương trình truyền hình đã góp phần nâng cao nhận thức về chất lượng hàng Việt và khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm nội địa.

1.2. Lịch sử và bối cảnh của cuộc vận động

Cuộc vận động 'Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam' được khởi xướng từ năm 2009, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa. Mục tiêu chính là nâng cao nhận thức và khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn hàng Việt Nam, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển.

II. Những thách thức trong việc tuyên truyền hàng Việt Nam qua báo chí

Mặc dù báo chí đã có những nỗ lực trong việc tuyên truyền, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Sự cạnh tranh từ hàng ngoại và tâm lý sính ngoại của một bộ phận người tiêu dùng là những vấn đề lớn. Để nâng cao hiệu quả truyền thông, cần có những giải pháp cụ thể.

2.1. Tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng

Nhiều người tiêu dùng vẫn có xu hướng ưu tiên hàng ngoại do tâm lý cho rằng sản phẩm nước ngoài có chất lượng tốt hơn. Điều này đặt ra thách thức lớn cho báo chí trong việc thay đổi nhận thức và thuyết phục người tiêu dùng.

2.2. Chất lượng thông tin và nội dung truyền thông

Một số thông điệp truyền thông chưa đủ mạnh mẽ và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của công chúng. Cần cải thiện chất lượng nội dung và hình thức trình bày để tăng cường hiệu quả truyền thông về hàng Việt Nam.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về hàng Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả truyền thông, cần áp dụng các phương pháp mới và sáng tạo. Việc sử dụng các kênh truyền thông đa dạng và hiện đại sẽ giúp tiếp cận được nhiều đối tượng hơn.

3.1. Sử dụng mạng xã hội trong tuyên truyền

Mạng xã hội là một công cụ mạnh mẽ để truyền tải thông điệp đến đông đảo người tiêu dùng. Các chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội có thể tạo ra sự tương tác và lan tỏa thông điệp nhanh chóng.

3.2. Tổ chức các sự kiện và chương trình khuyến mãi

Các sự kiện quảng bá sản phẩm Việt Nam, kết hợp với chương trình khuyến mãi, sẽ thu hút sự chú ý của người tiêu dùng và tạo cơ hội để họ trải nghiệm sản phẩm trực tiếp.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả truyền thông của báo chí

Nghiên cứu cho thấy rằng báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải thiện để đạt được hiệu quả cao hơn.

4.1. Nhận thức của công chúng về hàng Việt Nam

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt Nam đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều người chưa hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng sản phẩm nội địa.

4.2. Đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí

Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông điệp của cuộc vận động. Tuy nhiên, cần có những đánh giá cụ thể hơn về hiệu quả của từng loại hình báo chí trong việc tuyên truyền.

V. Tương lai của cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam

Cuộc vận động 'Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam' cần được tiếp tục duy trì và phát triển. Sự tham gia của báo chí sẽ là yếu tố quyết định trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi tiêu dùng của người dân.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có những chiến lược dài hạn để duy trì và phát triển cuộc vận động, bao gồm việc nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện hình ảnh hàng Việt Nam trong mắt người tiêu dùng.

5.2. Vai trò của báo chí trong tương lai

Báo chí sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức về hàng Việt Nam. Cần có sự đổi mới trong cách thức truyền tải thông điệp để phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục hình vẽ, bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, mục lục, phụ lục thì nội dung luận án gồm 4 chƣơng: CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CHÍ TRONG CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÃ HỘI CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VỚI CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƢỜI VIỆT NAM ƢU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƢỜI VIỆT NAM ƢU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” CHƢƠNG 4.

VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƢỜI VIỆT NAM ƢU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CHÍ TRONG CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÃ HỘI Trong chƣơng này, luận án sẽ phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam trên 4 bình diện sau: về thông điệp của báo chí trong các cuộc vận động xã hội (1), về cách đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội (2), những yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả truyền thông của báo chí trong các cuộc vận động xã hội đó (3) và những nghiên cứu về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (4). Thông điệp của báo chí trong các cuộc vận động xã hội Sự tham gia của báo chí trong các cuộc vận động là một vấn đề đƣợc nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực báo chí truyền thông, trong đó có không ít nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự sàng lọc thông điệp truyền tải có chủ đích của các cơ quan thông tấn, báo chí. Những thông điệp này hƣớng đến mục đích định hƣớng dƣ luận xã hội cũng nhƣ thu hút sự quan tâm của công chúng đối với các cuộc vận động đó. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu trong các môi trƣờng báo chí truyền thông khác nhau thƣờng đƣợc triển khai theo những hƣớng không giống nhau.

Nghiên cứu trên thế giới Việc định hƣớng thông tin của báo chí trong các chiến dịch truyền thông, đặc biệt là trong các hoạt động tranh cử đƣợc nghiên cứu nhiều trên thế giới, trong một bài nghiên cứu về loạt bài đƣợc đăng trên tờ Irish Times trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Ireland ngày 17/5/2002, bằng phƣơng pháp phân tích nội dung và sử dụng lý thuyết thiết lập chƣơng trình nghị sự thì Heinz Brandenburg, Jacqueline Hayden [161] đã chỉ ra kết quả đúng nhƣ những gì nhà báo Paul Cullen đã tố cáo các đồng nghiệp của anh “dàn xếp một vở hài kịch trong chiến dịch tranh cử này”, Paul cho ra rằng chiến dịch bầu cử này đƣợc điều khiển bởi một bộ phận làm truyền thông của Fianna Fáil (hoạt động nhƣ một công ty truyền thông giải trí); kết quả phân tích nội dung chỉ ra tất cả các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình và chuyên gia PR đều đƣa chiến dịch lên làm tiêu đề chính, tuy vậy nó lại tạo ra nhiều lỗ hổng đối với các vấn đề của chiến dịch khi những nhà báo đó thay vì việc thiết lập một chƣơng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình nghị sự với đầy đủ nội dung, định hƣớng tích cực cho công chúng thì lại khiến cho câu chuyện tranh cử kết thúc bằng hình ảnh bất lực của những chính trị gia khi những góc khuất của chiến dịch tranh cử bị công chúng phát giác, đây là sự thất bại cho cách làm truyền thông phô trƣơng, công khai nhƣng không thành thật. Với góc nhìn rộng hơn, William L.Benoit [193] xem xét tất cả các biến số quan trọng bao gồm kênh truyền thông của chiến dịch từ chƣơng trình truyền hình đến các trang web của ứng viên hay gửi thƣ quảng cáo trực tiếp, thông điệp liên quan tới cuộc vận động, nguồn tin, phản hồi cho đến scandal, cũng nhƣ bối cảnh ảnh hƣởng tới chiến dịch chính trị trong những cuộc vận động tranh cử, thông qua sự vận động của các chiến dịch trên toàn cầu. Bằng góc nhìn của lý thuyết đóng khung, ông đã chỉ ra rằng những thông điệp về các ứng viên tranh cử đƣợc cung cấp (bao gồm mọi vấn đề từ bản thân ứng viên đến những yếu tố hậu trƣờng khác nhƣ gia đình, mối quan hệ xã hội.) trên các phƣơng tiện truyền thông (đặc biệt là truyền hình và các tờ báo điện tử) thì sẽ tạo ra những “khung” nhận thức về ứng viên, họ sẽ lựa chọn trong những “khung” này một ứng viên mà họ cho rằng ƣu tú nhất, William cho rằng truyền thông sẽ ảnh hƣởng đến quá trình quyết định của cử tri thông qua những thông tin mà họ là ngƣời “đóng khung”. Cũng với hƣớng nghiên cứu nhƣ trên, Amy E.Jaspersonvà các cộng sự [136] khi nghiên cứu chƣơng trình nghị sự chính trị về hoạt động bảo vệ quyền của phụ nữ với việc nạo phá thai ở bang Tennessee ở thời điểm vấp phải sự can thiệp của chính phủ với các vấn đề riêng tƣ, trong trƣờng hợp này chủ trƣơng của chính phủ đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ trong công chúng khi họ cho rằng Tennessee đang trở thành khu vực kinh doanh “ngành du lịch nạo phá thai” phát triển.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng, đã có cuộc đấu tranh giữa chiến lƣợc đóng khung thông tin của chính phủ về vấn đề này và chiến lƣợc đóng khung thông tin của những nhóm hoạt động xã hội phản đối chính phủ ở Tennessee, tuy vậy kết quả đã chỉ ra rằng tất cả các khung thông tin của những nhóm hoạt động xã hội này cung cấp đều không tạo ra hiệu quả bởi họ không nắm trong tay các phƣơng tiện truyền thông có đủ sức mạnh để “đóng khung” thông tin cho ngƣời dân, trong khi những nhà hoạt động cần phải sử dụng tất cả các nguồn tin để kết nối và vận động cử tri thì chính phủ chỉ cần một vài tin, bài đã đƣợc “đóng khung” trên báo chí nhƣng lại tạo ra sức lan tỏa lớn hơn. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tựu chung lại, các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra phƣơng thức “đóng khung” tin tức trong các cuộc vận động có một vai trò hết sức quan trọng trong việc định hƣớng dƣ luận xã hội, cũng nhƣ tạo ra sự nhận biết cho công chúng về một vấn đề cụ thể. Trong đó, báo chí đóng vai trò là một phƣơng tiện truyền thông quan trọng, ngƣời làm báo chính là ngƣời quyết định “khung” thông tin đó sẽ đƣợc nói nhƣ thế nào trƣớc công chúng. Đây cũng là hƣớng nghiên cứu về phƣơng thức truyền thông đƣợc sử dụng khá phổ biến trên thế giới, do đó việc kế thừa các kết quả cũng nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu này để soi chiếu vào bối cảnh truyền thông Việt Nam trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một cách làm không mới nhƣng có thể thực hiện đƣợc.

Nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, báo chí đóng một vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này trong lĩnh vực báo chí truyền thông, có tính thống nhất cao về một số quan điểm nhƣ: Nhiệm vụ thông tin trên báo chí cách mạng Việt Nam là thông tin có chức năng định hƣớng, giáo dục chính trị, tƣ tƣởng, thực chất là tuyên truyền và bảo vệ hệ tƣ tƣởng của giai cấp lãnh đạo, cụ thể là giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, báo chí cũng mang đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đến mọi tầng lớp nhân dân để tạo nên các phong trào, các hành động cách mạng mạnh mẽ. Khi phân tích nội dung tin, bài về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên 2 tờ báo Tuổi trẻ và báo điện tử Đảng Cộng sản, tác giả Vũ Thị Sáng [61] đã chỉ ra những ƣu điểm mà báo chí đã làm đƣợc nhƣ: báo chí là kênh tuyên truyền quan trong nhất, các chuyên mục về nội dung này đƣợc duy trì với số lƣợng tin, bài đều đặn.

Bên cạnh đó, những thông tin đƣợc đăng tải ít nhiều đã tác động đến thái độ, nhận thức của đại đa số bộ phận ngƣời đọc, nhiều bài báo tạo đƣợc những ấn tƣợng tốt, khơi gợi nên tinh thần học tập, làm theo nội dung cuộc vận động trong toàn xã hội. Tuy nhiên, những mặt hạn chế cũng đƣợc tác giả đƣa ra với 3 vấn đề lớn: thông tin về cuộc vận động chƣa đƣợc các cơ quan báo chí 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chú ý đúng mức, việc tin bài phân bố không đồng đều có thể khiến ngƣời đọc quên mất cuộc vận động do thiếu thông tin, ảnh hƣởng lớn đến phong trào chung và nội dung tin bài nhiều lúc quá rƣờm rà, dài dòng, các bài viết nhiều khi chƣa đƣợc đầu tƣ kỹ càng mà chỉ nhằm phục vụ mục đích “thông tin cho có”, chính vì vậy không tạo đƣợc sức hấp dẫn nơi công chúng. Đi sâu hơn vào phân tích một nội dung cụ thể của cuộc vận động này là “Tuyên truyền điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên báo điện tử ở nước ta hiện nay” tác giả Phạm Văn Cƣờng [9] chỉ ra bên cạnh những mặt tích cực nhƣ: sự đa dạng hóa về hình thức và nội dung đều rất chú ý đến tính khách quan, cũng nhƣ thể hiện sự gần gũi của nhân vật, thông qua những tấm gƣơng điển hình tiên tiến đƣợc phản ánh mà công chúng dần dần tiếp thu các giá trị nội dung của cuộc vận động mà không có cảm giác bị ép buộc, dẫn tới việc thay đổi nhận thức một cách từ từ và chắc chắn. Những vấn đề tồn tại cũng đƣợc tác giả đề cập khá cụ thể: công tác tuyên truyền chƣa đƣợc thƣờng xuyên, liên tục.

Nội dung tuyên truyền chƣa đƣợc cân đối và toàn diện, hình thức còn đơn điệu, cứng nhắc, chậm đổi mới và thiếu sáng tạo. Tình trạng một số cơ quan báo mạng chạy theo lợi nhuận thuần túy “ăn theo” CVĐ, chạy đua xuất bản các tin, bài chất lƣợng thấp, bài viết không phản ánh đƣợc những kết quả thực sự. Nội dung về CVĐ còn có chỗ trùng lặp, một số bài viết về vấn đề này còn dài, khó đọc, độc giả không thể cụ thể hóa những thông tin đó để có những hành động làm theo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ