Chương 1. Những vấn đề lý luận về bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Chương 2. Biểu hiện của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay Chương 3. Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 1.
Một số vấn đề lý luận về bản sắc và truyền thống văn hóa Việt 1. Lý luận chung về Văn hóa 1. Định nghĩa Văn hóa Hiện nay có hàng trăm các định nghĩa, quan điểm khác nhau về văn hóa dựa trên nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau. Có định nghĩa tiếp cận từ góc độ lịch sử qua việc nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống và tính ổn định thì cho rằng: “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.
Một số định nghĩa dựa vào chuẩn mực bằng cách nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị: “Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội như các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,. của một nhóm người” [10 - tr.10]; hay các đặc điểm tâm lý qua việc nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trƣờng, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con ngƣời: “Văn hoá là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh. Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.12], Chính vì sự đa dạng, muôn vẻ của khái niệm “văn hoá”, tổ chức UNESCO (năm 2002) chỉ đƣa ra một định nghĩa mang tính gợi ý rằng: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Nhƣ vậy, ở mỗi định nghĩa lại cho chúng ta một khía cạnh của văn hóa.
Bản thân cái “văn”, cái “đẹp” vốn đã khó định hình khi mà tƣ duy thẩm mĩ phụ thuộc vào mỗi ngƣời, mỗi thời đại, mỗi bƣớc đi của lịch sử. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa nhƣng hiện nay quan điểm văn hóa đƣợc coi là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra đƣợc coi là quan điểm đƣợc nhiều quốc gia sử dụng. Chức năng của Văn hóa Ngày nay, văn hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, dân tộc mà văn hóa đã và đang chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con ngƣời nói riêng và nhân loại nói chung. Văn hóa tổ chức và điều chỉnh xã hội, giúp con ngƣời giao tiếp và thông tin, văn hóa giáo dục và đƣa con ngƣời gia nhập vào cộng đồng xã hội.
Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội. Văn hóa có những chức năng cơ bản sau: Thứ nhất, văn hóa có chức năng tổ chức: Điểm đặc biệt của xã hội loài ngƣời là đƣợc tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những làng xã, quốc gia, đô thị, tổ nhóm, v. mà giới động vật không thể thực hiện. Để làm đƣợc điều đó, đó là nhờ văn hóa.
Trong khi đó, làng xã, quốc gia, đô thị… của mỗi dân tộc lại cũng có sự khác nhau – cái đó cũng là do sự chi phối của văn hóa. Chính tính hệ thống của văn hóa là cơ sở để văn hóa có chức năng này. Thứ hai, văn hóa có chức năng điều chỉnh: Mọi sinh vật đều có khả năng thích nghi với môi trƣờng xung quanh bằng cách tự biến đổi mình sao cho phù hợp với tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên. Con ngƣời hành xử theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn: dùng văn hóa để biến đổi tự nhiên phục vụ cho mình bằng cách tạo ra đồ ăn, quần áo, nhà cửa, vũ khí, máy móc, thuốc men… Mặt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác, văn hóa điều chỉnh cách hành xử của con ngƣời với con ngƣời trong xã hội để đảm bảo tính nhân văn hơn.
Tính giá trị là cơ sở cho chức năng điều chỉnh của văn hóa. Nhờ có chức năng điều chỉnh, văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển trong xã hội loài ngƣời. Thứ ba, văn hóa có chức năng giao tiếp: Một trong những đặc điểm khác biệt của con ngƣời với động vật là ở sự hợp quần thành xã hội, mà xã hội không thể hình thành và tồn tại đƣợc nếu thiếu sự giao tiếp. Văn hóa đã tạo ra những điều kiện và phƣơng tiện (nhƣ ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu) cho sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trƣờng giao tiếp của con ngƣời.
Đồng thời, đến lƣợt mình, văn hóa cũng là sản phẩm của giao tiếp: các sản phẩm của văn hóa còn có thể đƣợc tạo ra bằng hoạt động của các cá nhân riêng rẽ chứ bản thân văn hóa thì chỉ có thể là sản phẩm của hoạt động xã hội mà thôi. Thứ tư, văn hóa có chức năng giáo dục: Thông qua sự tích lũy và chuyển giao những giá trị tƣơng đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dƣới những khuôn mẫu xã hội trong cộng đồng ngƣời qua không gian và thời gian và đƣợc cố định hóa dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dƣ luận. từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên truyền thống văn hóa trên cơ sở tính lịch sử của nó chính là chức năng giáo dục của văn hóa. Nhƣng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành.
Văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con ngƣời, trồng ngƣời (dƣỡng dục nhân cách), tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa đƣa con ngƣời gia nhập vào cộng đồng xã hội; bởi vậy mà có ngƣời gọi chức năng này của văn hóa là chức năng xã hội hóa. Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, còn có thể nói đến các chức năng khác của văn hóa nhƣ chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí… 1. Đặc trưng của Văn hóa Việt 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ nhất, Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng.
Cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa mang tính sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngƣỡng, sự khoa dung trong tƣ tƣởng, giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính câu từ, cặn kẽ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật. - Thứ hai, sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cƣ đã tạo ra những vùng văn hóa có những nét đặc trƣng riêng tại Việt Nam. Ở mỗi vùng dân tộc khác nhau, mỗi khu vực sinh sống khác nhau có những đặc trƣng khác nhau giữa các tộc ngƣời nhƣ khu vực đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long… thì cách thức tổ chức đời sống sinh hoạt dân cƣ, văn hóa ăn uống, trang phục có sự khác nhau. - Thứ ba, với lịch sử có từ hàng nghìn năm của ngƣời Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của ngƣời Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hƣởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay.
Với những ảnh hƣởng từ xa xƣa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hƣởng của Pháp từ thế kỷ thứ XIX, phƣơng Tây trong thế kỷ XX và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhƣng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Khái niệm bản sắc văn hóa Việt Nếu nhƣ văn minh là tìm cách hòa mình vào dòng chảy không ngừng của nhịp độ phát triển đi lên với thế giới thì tìm về văn hóa lại là cú lội ngƣợc dòng vào trong tâm khảm để tìm lại những giá trị bền vững, truyền thống, tinh hoa đƣợc kết tụ ngàn năm trong mỗi con ngƣời, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Không có một đất nƣớc nào chỉ công nghiệp hóa, lãng quên vào việc giữ gìn văn hóa mà có thể tồn tại cân đối và lâu dài.
Và có lẽ, trên thế giới này, chẳng một dân tộc nào chịu phải trả một 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cái giá quá đắt khi đánh rơi đi cái tôi riêng, khuôn mặt riêng, cá tính riêng của họ. “Cái tôi văn hóa”, hay ngƣời ta vẫn gọi là bản sắc văn hóa ấy, tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực mà vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Hiện nay cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản sắc văn hóa. Có quan điểm cho rằng “bản sắc dùng để chỉ tính chất, mầu sắc tiêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của mội sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó” [10 – tr.
Trong thực tế, khi nói bản sắc thƣờng là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. "Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài.