ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh hemophilia hay còn gọi là bệnh rối loạn đông máu. Đây là một bệnh di truyền do thiếu hụt hay bất thƣờng chức năng của các yếu tố đông máu huyết tƣơng, nhƣ các yếu tố VIII, IX hay XI. Bệnh đặc trƣng bởi thời gian đông máu kéo dài và tăng nguy cơ chảy máu; biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết, xuất huyết có thể tự nhiên hoặc sau chấn thƣơng nhẹ. Đặc điểm xuất huyết là đám máu bầm dƣới da, tụ máu trong cơ, chảy máu ở các khớp.
Tỷ lệ mắc ở các nƣớc có thể là khác nhau nhƣng tần suất chung khoảng 30- 100/1. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về bệnh hemophilia và dự kiến sẽ có khoảng 550.000 ngƣời bị bệnh hemophilia vào năm 2020, ở Việt Nam hiện nay có khoảng 6000 bệnh nhân trong đó chỉ có 30% đƣợc phát hiện và điều trị [2]. Hemophilia là bệnh di truyền lặn liên quan đến giới tính, gen bệnh nằm trên nhiễm sắc thể X. Ngƣời mẹ mang gen bệnh có khả năng truyền bệnh cho 50% con trai của họ, do vậy chủ yếu bệnh nhân là nam.
Có 3 loại hemophilia, sự giảm yếu tố VIII gây ra bệnh hemophilia A, thiếu hụt yếu tố IX gây hemophilia B và bất thƣờng yếu tố XI sẽ gây bệnh hemophilia C. Trong đó hemophilia A chiếm 80-85%, hemophilia B chiếm 15-20%, hemophilia C chiếm tỉ lệ rất ít, phổ biến chủ yếu ở ngƣời Do Thái với tỉ lệ mắc đồng hợp tử khoảng 1-3‰ ngƣời Do Thái [3]. Ở bệnh nhân thể nặng, nồng độ protein yếu tố VIII trong máu rất thấp, chỉ ≤ 1% so với ngƣời bình thƣờng (nồng độ yếu tố VIII bình thƣờng là 200 ng/ml). Việt Nam là một nƣớc có tỉ lệ mắc bệnh hemophillia A trong cộng đồng khá cao.
Theo nghiên cứu của Đỗ Trung Phấn và cộng sự năm 1996 tỷ lệ mắc bệnh khoảng 25 – 60/1.000 ngƣời [4], trong khi đó phƣơng pháp điều trị Tieu luan hiện nay ở nƣớc ta là sử dụng yếu tố VIII trong máu toàn phần (truyền trực tiếp hoặc tách chiết) rất tốn kém và hiệu quả không cao, đặc biệt có nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đƣờng máu. Trên thế giới, các nhà khoa học đã phân tích gen của bệnh nhân hemophilia A và rất nhiều dạng đột biến gen yếu tố VIII (F8) đƣợc công bố. Các nghiên cứu khẳng định dạng đột biến khác nhau sẽ gây những kiểu hình đặc trƣng khác nhau. Bệnh nhân hemohilia A thể nặng thƣờng gặp dạng đột biến đảo đoạn exon 22 (chiếm 45-50%), trong khi đó đột biến điểm chiếm đa số ở bệnh nhân hemophilia A thể bệnh vừa và nhẹ (chiếm 90-95%) [5].
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh hemophilia A, chủ yếu là các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá tỷ lệ mắc bệnh hay các nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị bệnh bằng các chế phẩm thay thế… Chƣa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về đột biến gen mã hóa yếu tố VIII ở ngƣời Việt Nam, tạo cơ sở dữ liệu để làm tiền đề cho việc xây dựng bản đồ gen ở bệnh nhân hemophilia A Việt Nam. Với sự tiến bộ của kỹ thuật sinh học phân tử, các nhà khoa học có thể phân tích DNA của ngƣời bệnh để xác định chính xác các tổn thƣơng gen gây bệnh hemophilia A, cũng nhƣ kiểm soát bệnh tốt hơn nhờ phát hiện ngƣời phụ nữ mang gen bệnh và tƣ vấn di truyền trƣớc hôn nhân, tăng hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh tật đồng thời nâng cao chất lƣợng chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng. Do vậy, đề tài này đƣợc thực hiện với hai mục tiêu: 1. Phát hiện đột biến gen F8 của bệnh nhân hemophilia A ở Việt Nam.
Bước đầu xây dựng bản đồ đột biến gen F8 đối với bệnh nhân hemophilia A tại Việt Nam. Tieu luan Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỆNH HEMOPHILIA A Từ thời kỳ cổ đại loài ngƣời đã biết đến bệnh máu khó đông, tuy nhiên không có tên gọi chính thức cho nó. Trong các văn tự cổ của ngƣời Do thái từ thế kỷ thứ II trƣớc công nguyên đã miêu tả những đứa trẻ chết do chảy máu không cầm đƣợc sau khi cắt bao quy đầu (theo tục lệ của ngƣời Do Thái: trẻ em trai sinh ra đƣợc cắt bao quy đầu).
Bác sỹ ngƣời Ả rập- Albucasis cũng miêu tả những đứa trẻ bị chết do chảy máu vì những vết thƣơng nhỏ. Bệnh máu khó đông đƣợc nhận thấy là có tính di truyền hàng trăm năm qua các thế hệ trong một gia đình. Vào những năm 1880 ngƣời ta đã phát hiện bệnh máu khó đông di truyền liên kết với giới tính, các nhà khoa học nhận thấy chỉ có nam giới mắc bệnh và không có khả năng truyền bệnh cho con trai, ngƣời mẹ mang gen bệnh và truyền cho con trai mình. Bệnh hemoliphia còn đƣợc biết đến nhƣ căn bệnh của hoàng gia vì nữ hoàng Anh Victoria (1838-1901) mang gen bệnh này và truyền bệnh cho nhiều Hoàng Gia khác [6].
Xu hƣớng chảy máu của bệnh ƣa chảy máu ban đầu đƣợc cho là do thành mạch yếu, dễ bị vỡ khi tổn thƣơng. Vào những năm 30 của thế kỉ XX, bất thƣờng của tiểu cầu đƣợc cho là nguyên nhân có khả năng nhất gây bệnh ƣa chảy máu. Năm 1937, Patek và Taylor phát hiện ra rằng họ có thể kiểm soát những khiếm khuyết của quá trình đông máu bằng cách thêm một chất chiết xuất từ huyết tƣơng, chất này đƣợc gọi là globulin chống chảy máu. Năm 1944, Pavlosky nghiên cứu ở Buenos Aires cho thấy máu của một bệnh nhân hemophilia có thể điều trị triệu chứng rối loạn đông máu của bệnh nhân hemophilia khác và ngƣợc lại, khi tình cờ ông gặp hai bệnh nhân bị thiếu hụt Tieu luan hai protein khác nhau - yếu tố VIII và yếu tố IX [7].
Những phát hiện này cho phép chẩn đoán chính xác và xây dựng cơ sở khoa học cho việc điều trị bệnh rối loạn đông máu di truyền. BỆNH HỌC BỆNH HEMOPHILIA A 1. Bệnh hemophilia A Bệnh hemophilia A là bệnh rối loạn đông máu di truyền do khiếm khuyết gen tổng hợp yếu tố VIII dẫn đến giảm nồng độ hoạt tính yếu tố VIII trong máu [8]. Đại cương về đông máu Đông máu là một quá trình máu chuyển từ thể lỏng thành thể đặc, do sự chuyển fibrinogen thành fibrin không hòa tan.
Các sợi fibrin sẽ trùng hợp với nhau tạo ra mạng lƣới fibrin giam giữ các thành phần của máu và máu sẽ đông lại. Cục máu đông hình thành sẽ có tác dụng bịt kín chỗ tổn thƣơng [9]. Bình thƣờng trong máu và trong mô có chất gây đông và chất chống đông, những chất gây đông ở dạng tiền chất không hoạt động nên máu không đông đƣợc. Khi mạch máu bị tổn thƣơng sẽ hoạt hóa các yếu tố đông máu làm cho máu đông lại.
Các yếu tố đông máu Hội nghị quốc tế năm 1959 về đông máu, đã quy định tên gọi của các yếu tố đông máu bằng các chữ số La mã. Có 12 yếu tố đông máu: - Yếu tố I: Fibrinogen - Yếu tố II: Prothrombin - Yếu tố III: Prothrombin của mô hoặc các yếu tố mô - Yếu tố IV: Ion canxi - Yếu tố V: Proaccelerin (yếu tố không ổn định) - Yếu tố VII: Proconvectin (yếu tố ổn định) - Yếu tố VIII: Yếu tố chống hemophilia - Yếu tố IX: Yếu tố chống hemophilia B (yếu tố Christmas) Tieu luan - Yếu tố X: Yếu tố Stuart - Yếu tố XI: Yếu tố tiền thromboplastin huyết tƣơng (Yếu tố chống hemophilia C) - Yếu tố XII: Yếu tố Hageman- yếu tố chống hemophilia D (Yếu tố ổn định fibrin) Gần đây, đã phát hiện hai protein của huyết tƣơng mới đƣợc xếp vào các nhóm yếu tố đông máu huyết tƣơng: - Prekallikrein. - Kininogen trọng lƣợng phân tử cao. Quá trình đông máu của huyết tƣơng là sự kết hợp giữa hai con đƣờng đông máu nội sinh và đông máu ngoại sinh.
Các hoạt động kế tiếp nhau của các enzym trong chuỗi các phản ứng nối tiếp dẫn tới hình thành thrombin và chuyển fibrinogen thành fibrin, trong đó yếu tố VIII tham gia nhƣ một đồng yếu tố. Sơ đồ đông máu theo con đƣờng nội và ngoại sinh [10] Tieu luan 1. Chẩn đoán bệnh hemophilia A a/ Chẩn đoán xác định - Tiền sử gia đình có ngƣời mắc bệnh. - Triệu chứng lâm sàng: thể hiện khác nhau giữa các bệnh nhân, nhƣng triệu chứng chảy máu là đặc trƣng của bệnh.
Hội chứng chảy máu ít khi xảy ra vào lúc mới đẻ, thƣờng xuất hiện khi trẻ tập đi, lúc đó trẻ xuất hiện các nốt hoặc các điểm tụ máu. Trong các thể xuất huyết nhẹ, xuất huyết xảy ra khi răng sữa rụng hoặc nhổ răng. Bệnh càng nặng thì triệu chứng xuất huyết xuất hiện càng sớm. Bệnh hemophilia A thể nặng đặc trƣng bởi bầm tím và chảy máu thƣờng xuyên tái phát vào khớp, đặc biệt là đầu gối, mắt cá chân, hông và khuỷu tay gây giới hạn chuyển động của các khớp.
Bệnh nhân có thể chảy máu từ 20 – 30 lần/ năm; chảy máu có thể tự phát hoặc sau một chấn thƣơng nhỏ. Tuy nhiên, chảy máu từ vết cắt hoặc vết trầy xƣớc đƣợc cầm máu tƣơng đối nhanh chóng. Đây là nguyên nhân phổ biến bệnh nhân hemophilia A có thể chảy máu đến chết sau một chấn thƣơng nhỏ. Vấn đề khó khăn nhất ở các bệnh nhân này chính là chảy máu trong nội tạng.
Chảy máu có thể xảy ra sau chấn thƣơng hoặc tiêm vacxin (Hình 3A). Tổn thƣơng nhẹ ở các thành mạch nhỏ có thể dẫn đến xuất huyết não hoặc mô mềm (Hình 3B, C) dẫn đến biến chứng nghiêm trọng. Hình ảnh tổn thƣơng ở những bệnh nhân hemophilia A [11] A: Tổn thương bầm tím (h) khi trẻ tập lẫy dẫn đến sự nghi ngờ bệnh rối loạn đông máu ở trẻ 4 tháng tuổi. B: Chảy máu vào các mô mềm xung quanh mắt trái ở bệnh nhân 1 tuổi.
C: Xuất huyết nội tạng (khớp vai và khớp háng) ở bệnh nhân 4 tuổi. Tieu luan Điều trị nhanh chóng để chấm dứt chảy máu là quan trọng đối với việc bảo tồn các khớp, sự hiện diện của máu trong ổ khớp dễ dẫn đến viêm màng hoạt dịch cấp tính. Các trƣờng hợp chảy máu lặp đi lặp lại nhiều lần trong ổ khớp sẽ vƣợt quá khả năng loại bỏ các xâm nhập của đại thực bào và dẫn đến màng hoạt dịch bị phá hủy tiến tới hỏng khớp [11]. - Xét nghiệm cận lâm sàng: + Thời gian đông máu kéo dài có thể hơn 1 giờ; chất lƣợng cục máu đông kém; thời gian Howel kéo dài… + Định lƣợng yếu tố VIII (FVIII) giảm hoặc không có.
+ Xét nghiệm DNA phát hiện đột biến gen F8. + Yếu tố Von- Willebrand bình thƣờng.