phần mở đầu, mục lục, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 3: Hệ thống bài tập phát triển năng lực đọc hiểu trong môn Ngữ văn cho học sinh lớp 10 theo hƣớng ra đề của PISA Chƣơng 4: Thử nghiệm sƣ phạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và phát triển năng lực 1. Năng lực “Năng lực” là một khái niệm đƣợc đề cập tới trong nhiều tài liệu nghiên cứu thuộc lĩnh vực Tâm lý học hay Giáo dục học.
Từ góc nhìn của nhiều nhà tâm lí thì trong bất cứ hoạt động nào của con ngƣời, để thực hiện có hiệu quả, con ngƣời cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này đƣợc gọi là năng lực. Trong nền Tâm lý học Liên xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề năng lực, có thể điểm qua các tác giả nhƣ V. Iaguncova… Theo quan điểm của Tâm lý học Mac xit, năng lực của con ngƣời luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Theo đó, “năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn” [24].
Nhà tâm lí học Mỹ Richard E. Snow (1936-1997) thì cho rằng năng lực là “khả năng đáp ứng ngay lập tức- phù hợp hay không- với một tình huống cụ thể hoặc một tập hợp tình huống nào đó”. Khái niệm năng lực hết sức gần gũi với tâm thế sẵn sàng (nhƣ sẵn lòng đọc sách), vẻ hài hòa, tính nhạy cảm (để xử lý hoặc thuyết phục) và sự chịu đựng (ví dụ, có thể chịu đựng tai nạn). Ở đây, thuật ngữ năng lực chú ý tới các trạng thái tâm lí của đối tƣợng trong khi giải quyết tình huống, mức độ sẵn lòng học hỏi và tiến hành tốt trong một lĩnh vực nhất định.
Trong những tài liệu về giáo dục trong và ngoài nƣớc, thuật ngữ “năng lực” đƣợc tiếp cận theo những cách khác nhau. Theo cách tiếp cận tích hợp, F. Weinert (2001) cho rằng “năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc có sẵn của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”; “năng lực của học sinh là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề”. Theo ông, năng lực gồm các thành phần: năng lực chuyên môn, năng lức phƣơng pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.27] Denyse Tremblay (2002) dựa trên cách tiếp cận học suốt đời, cho rằng “năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” Theo cách tiếp cận hành vi, năng lực đƣợc hiểu là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành bởi sự kết hợp của những kiến thức và kĩ năng cụ thể.
Bùi Hiền và các tác giả cuốn từ điển giáo dục học thống nhất quan điểm này. Dựa vào những định nghĩa năng lực khác nhau và những chiều đo của khái niệm, Wim Kouwwenhoven (2003) trình bày một định nghĩa đấy đủ hơn. Theo đó, năng lực “là khả năng lựa chọn và ứng dụng một tập hợp những kiến thức, kĩ năng , thái độ với chủ đích thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể khi mà những đặc tính cá nhân như động cơ, sự tự tin, ý chí là một phần của hoàn cảnh” [4,tr. Nhƣ vậy, năng lực đƣợc cấu thành từ những bộ phận cơ bản: - Tri thức về lĩnh vực hoạt động - Kĩ năng tiến hành hoạt động - Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện những tri thức, kĩ năng đó theo một định hƣớng rõ ràng và một bối cảnh cụ thể.
PISA/ OECD định nghĩa “năng lực chính là những giá trị cụ thể, ở nhiều lĩnh vực, hữu ích và cần thiết cho tất cả mọi người, liên quan đến khả năng đáp ứng các nhu cầu phức tạp bằng cách tạo lập và huy động cả những nguồn lực tâm lý xã hội (bao gồm cả kỹ năng và thái độ) trong một bối cảnh cụ thể”[OECD, Definition and selection competences, Revised December, 2009]. Theo chúng tôi, khái niệm năng lực của OECD đã kế thừa các yếu tố đúng đắn trong quan niệm của các nhà nghiên cứu trƣớc đó và đƣa ra khái niệm tƣơng đối toàn diện. Cụ thể, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sàng hành động của mỗi cá nhân thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ trong mỗi bối cảnh và tình huống cụ thể. Mỗi năng lực quan trọng không chỉ tạo nên giá trị cho cá nhân và xã hội mà còn giúp cá nhân đáp ứng các vấn đề của đời sống thực trong nhiều bối cảnh, và đó là những gì quan trọng với tất cả các cá nhân.
Về khái niệm năng lực (competency), thiết nghĩ cũng cần làm rõ một số thuật ngữ có liên quan nhƣ năng lực đầu ra của ngƣời học (learning outcomes), mục tiêu học tập(learning objectives). + Competency: Năng lực làm việc, nhìn dƣới quan điểm thị trƣờng lao động. Một ngƣời lao động (có thể là học sinh, sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc bất kỳ ai), khi đƣợc tuyển vào một vị trí, thì phải có những năng lực nào đó, mới có thể làm việc đƣợc. + Learning Outcomes: năng lực đầu ra của ngƣời học, là cái nhìn ở cuối mỗi quá trình học tập, được hiểu là những kiến thức, năng lực (tổng quát), và kỹ năng (cụ thể) vốn là những kết quả trực tiếp của việc học Cần phải có chứng cứ khách quan về khả năng này (ví dụ thông qua những quan sát, phỏng vấn, thực tập, hoặc thi những kỳ thi nghề nghiệp do bên ngoài thực hiện).
Thuật ngữ này khá gần với competency theo nghĩa là hƣớng ra bên ngoài, nhƣng cũng vẫn rất gắn với nhà trƣờng vì nó nhấn mạnh những năng lực đạt được sau một quá trình học + Learning Objectives: mục tiêu học tập, đóng vai trò định hƣớng hoạt động giáo dục cũng nhƣ là căn cứ đánh giá kết quả học tập của ngƣời học. Nói tới mục tiêu là nói tới những phát biểu tổng quát về những gì nhà trƣờng dự định sẽ đạt đƣợc thông qua việc giảng dạy. Nhƣ có thể thấy qua khái niệm ở trên, nếu mục tiêu học tập thể hiện quan điểm lấy ngƣời dạy hoặc nhà trƣờng làm trung tâm, thì năng lực đầu ra và năng lực làm việc thể hiện quan điểm lấy ngƣời học hoặc thị trƣờng lao động làm trung tâm. Ngoài ra, "mục tiêu" thƣờng nhấn mạnh kiến thức (và có thể là cả thái độ) thì năng lực đầu ra và năng lực làm việc thƣờng nhấn mạnh kỹ năng, đặc biệt là những kỹ năng cần thiết trong môi trƣờng làm việc, có thể gắn hoặc không gắn với những ngành nghề cụ thể.
Năng lực có những đặc điểm cơ bản sau: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chỉ có thể quan sát đƣợc qua hoạt động của mỗi cá nhân trong tình huống nhất định - Tồn tại dƣới hai dạng: Năng lực chung cần thiết cho tất cả mọi ngƣời và các năng lực chuyên biệt cần thiết cho một số ngƣời và ở một số tình huống nhất định - Năng lực đƣợc hình thành và cải thiện liên tục trong suốt cuộc đời con ngƣời, do đó sẽ có những năng lực mạnh lên nếu đƣợc sử dụng tích cực và thƣờng xuyên và ngƣợc lại. Phát triển năng lực Vì năng lực đƣợc cấu tạo từ các năng lực thành phần (nhƣ tri thức, kĩ năng tiến hành hoạt động và điều kiện tâm lí để thực hiện những tri thức, kĩ năng đó trong bối cảnh cụ thể) nên việc phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển tổng hợp các yếu tố đó. Sự phát triển năng lực về thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động của mỗi cá nhân chứ không chỉ đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ. Việc phát triển các năng lực thành phần phải thông qua thực hành các tình huống trong một thời gian nhất định.
Khi cá nhân tiến hành giải quyết các bối cảnh, tình huống với sự phức tạp tăng dần, một vài năng lực cũng sẽ dần dần đƣợc hình thành và phát triển. Nếu sử dụng tích cực và thƣờng xuyên một loại năng lực nào đó, năng lực này sẽ trở lên mạnh hơn, độ thành thạo cao hơn và ngƣợc lại. Mỗi ngƣời có thể có sự thành thạo khác nhau về năng lực nhất định khi xử lí một tình huống cụ thể. Có nhiều cấp độ khác nhau trong một loại năng lực.
Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ năng lực sơ đẳng, thụ động tới các năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. Thông thƣờng số lƣợng ngƣời đạt đƣợc cấp độ năng lực sơ đẳng cao hơn rất nhiều so với ở những cấp độ phức tạp hơn. Vì vậy, để xem xét năng lực của một cá nhân nào đó, chúng ta phải chỉ ra mức độ của các năng lực đó. Đỉnh cao nhất của năng lực là cá nhân có khả năng tự chủ cao trong mọi hoạt động.
Việc phát triển năng lực cũng đồng nghĩa với việc nâng cao dần các cấp độ năng lực từ thấp lên cao. Khi các năng lực đạt tới mức độ thành thạo nhất định thì sẽ cho phép duy trì và chuyển đổi các cấp độ năng lực cao hơn. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực đƣợc hình thành và phát triển ở trong và ngoài nhà trƣờng. Nhà trƣờng đƣợc coi là môi trƣờng chính thức giúp học sinh có những năng lực chung cần thiết song đó không phải là nơi duy nhất.
Những bối cảnh và không gian không chính thức khác nhƣ: gia đình, cộng đồng… với phƣơng tiện thông tin đại chúng, tôn giáo, mỗi trƣờng văn hóa… cũng góp phần bổ sung, hoàn thiện và phát triển năng lực cá nhân.