CHƯƠNG I SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN VÀ CÁC BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Sự phát triển của kiểm toán Hoa kỳ cùng với thất bại lớn nhất trong lịch sử kiểm toán, sai lầm của Arthur Andersen tại tập đoàn năng lượng Enron, là một bài học về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Nghiên cứu sự kiện này trong bối cảnh ngành kiểm toán Hoa Kỳ đang trong thời kỳ phát triển cùng với những rủi ro mà sự phát triển ấy đem lại là để phần nào giúp cho người hành nghề kiểm toán Việt Nam cũng như các cơ quan quản lý Việt Nam nhận thức rõ hơn những nguy cơ sai lầm mà nghề nghiệp kiểm toán có thể mắc phải. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể vừa điều chỉnh kịp thời những sai lầm trong hoạt động kiểm toán vừa giúp sức cho hoạt động kiểm toán phát triển và thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho hệ thống thông tin tài chính.TÓM TẮT SỰ KIỆN ENRON-ARTHUR ANDERSEN (AA) 1.QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ENRON Enron là một công ty chuyên cung cấp khí gas, được thành lập do sáp nhập công ty HNG vào công ty InterNorth năm 1985, đặt trụ sở chính ở Houston, Texas, Hoa Kỳ. Từ năm 1985 đến 1993, Enron đạt lợi nhuận cao trong ngành phân phối khí gas nhờ sự thay đổi chính sách quản lý của chính phủ Hoa Kỳ đối với ngành hàng này.
Từ đó, Enron bắt đầu kinh doanh các lĩnh vực khác như giao dịch phái sinh về năng lượng, nước, điện, than, giấy, viễn thông, kim loại… ở Mỹ, Châu Âu và nhiều nước khác. Chiến lược này đòi hỏi đầu tư rất lớn vào tài sản. Thế nhưng, những dự án này lại không hiệu quả với các khoản lỗ ước tính khoảng 10 tỉ đô la. Thêm vào đó, chi phí hoạt động của Enron từ những năm 1996 cũng tăng lên đáng kể: số lượng nhân viên tăng từ 7.500 người năm 1996 lên đến 20.000 người năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 2001, mức lương tăng rất cao (trong năm 2000, 200 nhà điều hành với mức lương 1 triệu đô la Mỹ/năm, trong đó, có 26 người lương trên 10 triệu đô la/năm).
Tóm lại, những năm cuối thập kỷ 1990, chiến lược đầu tư không hiệu quả và sự quản lý yếu kém đã đưa Enron lâm vào những khó khăn tài chính. Enron đã vay hơn 30 tỉ đô la mà không làm ảnh hưởng đến chỉ số xếp loại tín dụng vì đã không báo cáo đầy đủ nợ phải trả và giấu lỗ. Sự khuếch trương các chiến lược kinh doanh với những ý tưởng đầy năng động của Enron cộng với thành tích trong ngành năng lượng trước đây, đã hấp dẫn các nhà đầu tư và giá cổ phiếu Enron đạt đến đỉnh cao là 90 đô la/cổ phần. Tháng 1/2000, tạp chí Fotune đã xếp Enron ở hạng thứ 18 trong 100 công ty tốt nhất của Mỹ.
Theo báo cáo của Enron năm 2000, doanh thu toàn cầu đạt 100 tỉ đô la, tăng gấp 3 lần so với năm 1998; lợi nhuận tăng 40% trong 3 năm. Bất ngờ, ngày 8/11/2001, Ban giám đốc Enron công bố sửa lại báo cáo tài chính 4 năm 1997- 2000. Enron thừa nhận đã thổi phồng lợi nhuận, giấu nợ trong những thỏa thuận liên kết phức tạp. Tháng 12/2001, Enron chính thức nộp đơn xin phá sản.
Đến thời điểm này, giá cổ phần Enron rơi xuống chỉ còn chưa đầy 1 đô la.QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ ARTHUR ANDERSEN TỪ 1913 ĐẾN 30/08/2002 Cùng với sự phá sản của Enron là sự sụp đổ của một hãng kiểm toán lớn, danh tiếng và lâu đời Arthur Andersen (AA). Các nghiên cứu cho thấy sự cố này không phải là một trường hợp cá biệt mà là một điều không thể tránh khỏi của nghề nghiệp kiểm toán sau một thời gian dài phát triển lệch hướng đã được cảnh báo, tranh cãi nhưng không có giải pháp ngăn ngừa sự thất bại.1 Quá trình phát triển của nghề nghiệp kiểm toán ở Hoa Kỳ Từ khi ra đời đến khi phát sinh vụ Enron-AA, quá trình phát triển nghề nghiệp kiểm toán Hoa Kỳ có thể chia làm 3 giai đoạn : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 GIAI ĐỌAN 1: từ khi ra đời đến trước những năm 1940 - Giai đọan xây dựng nghề nghiệp. Nghề kiểm tóan ở Hoa Kỳ đã ra đời trong những năm cuối thế kỷ 19. Trong giai đoạn này, các công ty kiểm toán đầu tiên được thành lập và các tổ chức nghề nghiệp của kiểm toán viên đã ra đời, trong đó có tổ chức tiền thân của Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) là ASCPA.
Trước 1930, hoạt động kiểm toán là tự nguyện với hơn 90% công ty niêm yết tự nguyện kiểm toán. Sau khi thị trường chứng khóan sụp đổ năm 1929, ASCPA được mời tư vấn các chính sách về báo cáo tài chính. ASCPA đã đưa ra 6 nguyên lý chung về kế tóan. Nhờ đó, danh tiếng ASCPA bắt đầu nổi lên và nghề kiểm toán bắt đầu được coi trọng.
Giai đoạn1933-1934 Luật Chứng khóan và Luật Ủy ban chứng khoán ra đời, bắt buộc các công ty niêm yết phải kiểm tóan. Từ năm 1937 đến năm 1939, ASCPA thành lập Hội đồng chuyên trách về xây dựng qui trình kế tóan, chuẩn mực kế toán và thông cáo về qui trình kiểm tóan. Những nguyên lý kế tóan, qui trình kiểm tóan đầu tiên ra đời. GIAI ĐỌAN 2: thời kỳ từ những năm 1940 đến nửa đầu những năm 1960: Giai đoạn nghề nghiệp phát triển ở đỉnh cao danh tiếng và có nhiều ảnh hưởng.
Trong giai đoạn này, các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán đã đưa ra các chuẩn mực kế toán (GAAP) và các chuẩn mực kiểm tóan (GAAS) đầu tiên. Năm 1950, tất cả các bang và vùng lãnh thổ ở Mỹ ban hành luật về kế toán viên công chứng. Môn học về kế tóan, kiểm tóan được đưa vào các trường đại học. Năm 1959, AICPA thành lập Ủy ban Nguyên lý Kế tóan (APB) nhằm thực hiện các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, phát hành các công bố chính thức về GAAP.
Thập kỷ những năm 1960 được đánh dấu bằng cuộc đối thọai rõ ràng về các nguyên lý kế tóan với sự tham gia tích cực của các hãng kiểm tóan và các viện nghiên cứu học thuật về kế tóan. Trong thời gian này, vai trò và uy tín của kiểm toán viên, của nghề kiểm tóan đạt ở đỉnh cao, bởi tính nghề nghiệp và chất lượng cao của nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 GIAI ĐỌAN 3: Từ nửa sau những năm 1960 đến 2001: giai đoạn khủng hoảng trong nghề nghiệp với những tai tiếng và kiện tụng. Đây là giai đoạn dư luận xã hội bắt đầu lo lắng đến các vấn đề liên quan đến kiểm toán viên và các nguyên lý kế tóan do APB phát hành.
Những vấn đề đe dọa uy tín nghề nghiệp bắt đầu phát sinh và ngày càng gia tăng, xuất phát từ môi trường kinh doanh, hoạt động kiểm toán và phản ứng chưa đầy đủ của các bên. Về môi trường kinh doanh, các công ty phát triển mở rộng đầu tư ra nước ngoài, các hoạt động hợp nhất, mua bán sáp nhập phát triển mạnh, gia tăng áp lực cho các giám đốc điều hành và kế toán công ty về doanh thu, lợi nhuận. Các áp lực của khách hàng dồn lên các kiểm toán viên. Trong khi đó, Ủy ban Chống Độc quyền Liên bang, Bộ Tư pháp và Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ lại cho phép cạnh tranh tự do trong ngành kiểm toán, làm cho AICPA phải xóa bỏ các điều cấm về môi giới, hoa hồng, lôi kéo khách hàng.
AICPA và Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) sử dụng khái niệm “phạm vi dịch vụ” để vừa cho phép, vừa hạn chế KTV thực hiện một số dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán. Trong hoạt động kiểm toán, mục tiêu của các hãng kiểm toán trong thời kỳ này là lợi nhuận và lợi ích của ban gíam đốc khách hàng thay cho những giá trị nghề nghiệp truyền thống là độc lập, khách quan, chính trực và lợi ích của cổ đông. Tư duy tư vấn thay cho tư duy kiểm toán; Hình ảnh công ty kiểm toán là các công ty kinh doanh tư vấn đa dịch vụ, kiểm toán viên là những nhà tư vấn tinh thông chứ không phải là những nhà xác nhận đáng tin cậy. Bên cạnh đó, cạnh tranh mãnh liệt giữa các hãng kiểm toán khiến giá phí kiểm toán hạ thấp.
Các hãng kiểm toán dùng hoạt động kiểm toán để bước vào hoạt động tư vấn có phí cao. Việc theo đuổi lợi nhuận thay thế những nỗ lực hoàn thiện những gía trị nghề nghiệp. Sự bãi bỏ những điều cấm về lôi kéo khách hàng cùng với việc cho phép cung cấp dịch vụ tư vấn đã thay đổi tính chất mối quan hệ giữa kiểm toán viên với khách hàng. Có nhận định cho rằng: kiểm toán không còn là một nghề nghiệp nữa, mà là một công nghệ, kể cả sự cạnh tranh, quảng cáo giá rẻ và lôi kéo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khách hàng (Stephen A.
Trong từng công ty kiểm toán, xung đột nội bộ phát sinh giữa các chủ phần hùn kiểm toán và các chủ phần hùn tư vấn, vì thu nhập từ hoạt động tư vấn cao hơn hoạt động kiểm toán. Điều đó tăng thêm áp lực lên các chủ phần hùn kiểm toán và các kiểm toán viên (KTV) vì mục tiêu tìm và giữ khách hàng. Các yêu cầu bản lĩnh nghề nghiệp bị đẩy xuống hàng thứ yếu, khiến các KTV không thể độc lập với khách hàng. Kết quả của quá trình trên là các vụ scandal tài chính nổ ra liên tục, làm phát sinh nghi ngờ về sự xác nhận của KTV vốn được xem là đáng tin cậy.
Nhiều công ty kiểm toán bị dư luận phê phán, bị kiện tụng, bồi thường, chẳng hạn như sai lầm của KPMG tại Xerox Corp, Rite Aid Corp; Ernst & Young tại AOL Time Warner Inc, Cendant Corp; PWC tại IBM Corp, Lucent Technologies Inc; Deloitte Touche Tohmatsu (DTT) tại Boeing Corp …(Sundi Zhao, 2006). Kết quả điều tra của SEC với PWC từ 1996 - 1998 cho thấy có 8.000 lần vi phạm tính độc lập kiểm toán viên do các kiểm toán viên đầu tư vào khách hàng kiểm toán, trong đó 86.5% là vi phạm của chủ phần hùn (Sean M. Trong bối cảnh đó, thái độ và phản ứng của các cơ quan quản lý và người hành nghề không được đúng mức. Các thẩm phán cho rằng KTV phải duy trì tính độc lập với khách hàng và hoàn toàn trung thực với công chúng, nhưng không có điều khoản luật nào chế tài các sai phạm của kiểm toán viên.
SEC rất quan ngại về tính độc lập của KTV, nhưng không có biện pháp xử lý phù hợp.