phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Chiến lƣợc phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ quốc gia - Tổng quan nghiên cứu và một số vấn đề lý thuyết, khái niệm Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Chiến lƣợc phát triển và thực tiễn xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ ở Trung Quốc từ năm 2000 đến nay Chƣơng 4: Kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT, KHÁI NIỆM 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Bƣớc vào thế kỉ XXI, cùng với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thế giới cũng chuyển mạnh sang xu hƣớng toàn cầu hóa với hạt nhân là sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ cũng nhƣ đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ. Phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trở thành một trong những nội dung cơ bản trong hầu hết các chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội quốc gia cũng nhƣ trong các nghiên cứu phục vụ chính sách.
Trong Nghị quyết số 27 của Hội nghị TW 7 khóa X về vấn đề trí thức, Đảng ta cũng đã khẳng định: “đầu tƣ cho nhân lực khoa học công nghệ, đãi ngộ ngƣời tài là đầu tƣ cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc”. Trong suốt nhiều thập kỷ qua, Đảng và Nhà nƣớc cũng đã đƣa ra nhiều chính sách đặc biệt phát triển, trọng dụng và phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ để bộ phận này trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp quan trọng, đƣa nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại vào năm 2020 và là nƣớc công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ XXI Nhận thức đƣợc tầm quan trọng phải có một nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của đất nƣớc, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều học giả tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đƣa ra nhiều giải pháp để phát triển đội ngũ nhân lực khoa học - công nghệ. Ngay từ đầu những năm 2000, một loạt các nghiên cứu đã đƣợc xuất bản đề cập trực tiếp đề cấp đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ quốc gia. Các tác giả Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức “Phát triển nhân lực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã đi sâu nghiên cứu phân tích một số nguồn nhân lực của một số ngành công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta vào thời điểm đó nhƣ công nghệ thông tin, công nghệ sinh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học đồng thời đƣa ra một số giải pháp phát triển.
Cùng thời điểm đó, TS Bùi Thị Ngọc Lan trong cuốn sách “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ. Theo tác giả, đây là bộ phận trung tâm, làm nên chất lƣợng và sức mạnh ngày càng tăng của nguồn nhân lực khoa học công nghệ. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Hữu Dũng trong tác phẩm “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nhân lực com ngƣời trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực com ngƣời trong phát triển kinh tế- xã hội ở nƣớc ta hiện nay.
Đến năm 2005, trong luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế với nhan đề “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Phạm Văn Quý đã lần đầu tiên đề cập trực tiếp đến khái niệm nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đồng thời giới thiệu một cách đầy đủ toàn diện thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở nƣớc ta cũng nhƣ đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học công nghệ để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Trong vài năm gần đây, vấn đề phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ quốc gia thậm chí còn trở thành các nội dung thảo luận không chỉ dừng ở phạm vi trong giới học thuật mà còn thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà quản lý. Trong một hội thảo khoa học mang tính quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ƣơng tổ chức tại Hà Nội, Ban tổ chức hội thảo đã đƣa ra một dự thảo “Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ” nhằm lấy ý kiến rộng rãi từ các học giả và những ngƣời quan tâm. Dự thảo “Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ” là một tập đại thành các kết quả nghiên cứu cũng nhƣ trí tuệ của các nhà khoa học trong việc tƣ vấn cho chinh phủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xây dựng đề án phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế của đất nƣớc cũng nhƣ xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ đáp ứng với yêu cầu của thời đại mới.
Bên cạnh đó, các vấn đề thảo luận của việc phát triển xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ quốc gia không chỉ xuất phát từ thực tiễn và chính sách của Việt Nam mà còn dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới; trong đó Tổng luận “ Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nƣớc ASEAN” của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia là một sản phẩm nhƣ thế. Dựa trên thông tin thu thập về quá trình xây dựng chính sách và thực tiễn của các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, các tác giả đã phân tích và so sánh khá đầy đủ cũng nhƣ chỉ ra những thành công và thất bại trong các chính sách bồi dƣỡng, sử dụng nguồn nhân lực khoa học. Xem xét kinh nghiệm quốc tế với một phạm vi rộng hơn, cuốn sách “Kinh nghiệm của một số nƣớc về phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức” của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2008 đã giới thiệu một cách tổng quan kinh nghiệm của một số nƣớc phát triển trên thế giới nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Singapore.đặc biệt là kinh nghiệm trong việc xây dựng đội ngũ tri thức. Trong đó, cuốn sách đi sâu giới thiệu Hàn Quốc và Singapore là những nƣớc công nghiệp mới, từ một trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật lạc hậu vài chục năm trƣớc đây, đã vƣơn lên mạnh mẽ, trở thành nƣớc phát triển mới.
Cũng theo các tác giả của cuốn sách, Trung Quốc là nƣớc có nhiều đặc điểm kinh tế, xã hội tƣơng đồng với Việt Nam, đang có tốc độ tăng trƣởng rất nhanh và sẽ trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trên cơ sở phân tích chính sách gắn phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với xây dựng đội ngũ trí thúc của từng nƣớc, các tác giả đã rút ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế gắn với xây dựng đội ngũ tri thức của các quốc gia này. Gần đây, trong bài nghiên cứu “Kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức”, các tác giả Lê Trọng Ân, Trƣơng Văn Tuấn cũng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã giới thiệu những chính sách có hiệu quả của các quốc gia tiên tiến trên thế giới trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức của mình. Điều này gợi mở những suy nghĩ, hƣớng tiếp cận mới để bổ sung, hoàn thiện các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Có thể thấy, các công trình đƣợc nêu ra ở trên đã cung cấp những thông tin bổ ích dƣới các khía cạnh và các mức độ khác nhau. Một mặt, một số công trình nghiên cứu tập trung làm rõ mối quan hệ giữa nguồn nhân lực khoa học công nghệ với sự phát triển của đất nƣớc, chỉ ra thực trạng, đặc điểm, xu hƣớng phát triển của nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong nƣớc để từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm phục vụ quá trình phát triển kinh tế và hội nhập. Mặt khác, một bộ phận các nghiên cứu khác lại tập trung vào việc đúc rút nhiều kinh nghiệm trên thế giới và những gợi mở cho chính sách ở Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nhận ra cả hai xu hƣớng nghiên cứu này lại dƣờng nhƣ không tạo ra một mối liên kết với nhau cũng nhƣ chƣa đƣa ra đƣợc các nghiên cứu so sánh hợp lý, điều sẽ góp ích nhiều hơn trong việc tìm hiểu vấn đề phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, đồng thời có thể tạo ra các đề xuất và giải pháp có giá trị về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng chính sách phát triển và quản lý nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam.
Hơn thế nữa, có một thực tế phải thừa nhận là phần lớn các nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam cũng nhƣ việc tổng kế kinh nghiệm trên thế giới chủ yếu đƣợc tiến hành vào thập niên trƣớc, do đó bản thân nó đã không còn mang tính thời sự và ứng dụng cao. Trong vài năm trở lại đây, khoa học và công nghệ cũng nhƣ nguồn nhân lực của nó phát triển hết sức nhanh chóng và đa dạng; chính vì thế việc nghiên cứu chủ đề này cần phải đƣợc tiến hành bổ sung thƣờng xuyên nhiều thông tin mới.