phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương lớn và các mục, tiểu mục nhỏ. Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình tại tỉnh Phú Thọ. Giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình tại tỉnh Phú Thọ.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình Theo quy định của pháp luật về HN&GĐ, cũng chính là luật hiện hành và trực tiếp điều chỉnh các chế định liên quan đến HN&GĐ thì: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của của luật HN&GĐ về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [31]. Từ đó, có thể hiểu hôn nhân là sự gắn kết giữa một người nam và một người nữ tạo thành mối quan hệ vợ chồng, tạo lập nên gia đình đó chính là “tế bào” của xã hội.
Quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng, không trái với đạo đức xã hội, không trái với các quy định của pháp luật. Hôn nhân được xác định bởi hai sự kiện pháp lý đó là: kết hôn và chấm dứt hôn nhân (ly hôn). Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật chính là một hình thức thực hiện pháp luật. Do vậy, trước tiên cần đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật là gì? - Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Pháp luật XHCN là hệ thống các quy phạm pháp luật (các quy tắc) có tính chất bắt buộc chung do nhà nước XHCN ban hành (hoặc thừa nhận) theo một trình tự nhất định, và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo đảm bằng sức mạnh của mình, trong đó đặc biệt là sức mạnh cưỡng chế, trực tiếp thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh [4].
Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là công cụ quản lý xã hội cần thiết mà còn là vũ khí chính trị để chống lại thế lực thù địch. Pháp luật XHCN được thể chế hoá từ đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản, là phương tiện cho Đảng cộng sản lãnh đạo xã hội. Pháp luật là cơ sở pháp lý để Nhà nước tổ chức và hoạt động, là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, bảo vệ quyền công dân, quyền con người, là phương tiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, phát huy dân chủ và thiết lập quan hệ xã hội mới. Pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được thực hiện và thực hiện có hiệu quả trong đời sống hằng ngày.
Nếu pháp luật không thực hiện được trong đời sống hằng ngày thì sẽ làm giảm hoặc mất ý nghĩa, giá trị của pháp luật. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của pháp luật, Người từng nhận định rằng: “Một nhà nước v ng mạnh, có hiệu lực phải là một nhà nước làm cho mọi người dân biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” [9]. Tư tưởng của Người cũng cho thấy rõ quan điểm Pháp luật phải dân chủ, nhân văn và vì con người. Kế thừa tư tưởng ấy, Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [28, Điều 16].
Nhà nước pháp quyền chỉ phát huy hiệu lực của mình khi biết kết hợp giáo dục đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội và nhà nước, nghĩa là phải hài hòa và cân bằng giữa “đức trị” và pháp trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nhân hậu, giản dị, có tình yêu thương con người bao la nhưng không phải là người nhu nhược mà trái lại Người rất nghiêm khắc, không bao che sai phạm khuyết điểm cho một ai. Người yêu cầu những cán bộ mà làm công vụ về thi hành pháp luật phải công tâm, minh bạch, nghiêm minh. Người 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đức thanh liêm của con người cách mạng nói chung và của cán bộ tư pháp nói riêng, không vì cái lợi trước mắt của bản thân mà quên đi lợi ích cao cả của Quốc gia, dân tộc.
Trong lý luận nhà nước và pháp luật, khái niệm thực hiện pháp luật đã được quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất về cơ bản. Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, với những quá trình, cách thức làm cho các qui phạm pháp luật trở thành hành vi, xử sự thực tế của các chủ thể pháp luật. Vai trò của thực hiện pháp luật được thể hiện qua 4 hình thức như sau: + Tuân thủ pháp luật, còn gọi là tuân theo pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành nh ng hành vi mà pháp luật ngăn cấm. Các chủ thể pháp luật phải có nghĩa vụ mang tính chất pháp lý là phải tuân thủ pháp luật, không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm.
Khi mà nghĩa vụ ấy không được thực hiện thì họ chắc chắn sẽ bị xử lý bởi các chế tài trong quy phạm pháp luật hoặc chịu hậu quả bằng một hình phạt cụ thể. Ví dụ: Một người phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì tùy từng trường hợp, tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý theo các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Các chế tài đó mang tính bắt buộc chung nghĩa là buộc các chủ thể phải thực hiện từ đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe cũng như giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội, từ đó mỗi chủ thể sẽ nhận thức được và sẽ không vi phạm những điều mà pháp luật đã cấm. Tuy vậy, cũng có trường hợp, cá nhân hay tổ chức tuy đã nhận biết được các quy định cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm do động cơ nào đó hoặc để đạt được mục đích mà thấy rằng có lợi cho bản thân.
Cũng tương tự ví dụ vừa nêu, khi Pháp luật cấm hành vi “mua, bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Chủ thể “không được thực hiện hành vi mua, bán 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất ma túy” được xem là tuân thủ pháp luật. Và chủ thể thực hiện hành vi mua, bán chất ma túy được xem là không tuân thủ pháp luật, như vậy chủ thể đó sẽ phải chịu trách nhiệm về hình sự và bị xử phạt bằng chế tài được quy định trong bộ luật hình sự hiện hành. + Thi hành pháp luật, còn gọi là chấp hành pháp luật là hình thức trong đó các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện nh ng hành vi mà pháp luật quy định được thực hiện trong nh ng hoàn cảnh, nh ng quan hệ pháp luật mà pháp luật đã dự liệu cụ thể.
Đây là hình thức thực hiện pháp luật chủ động và tích cực bằng các hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật. Chủ thể thực hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội. Ví dụ: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/ thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, nếu không thuộc trường hợp miễn thuế/đối tượng không chịu thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”.
+ Sử dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nh ng hành vi mà pháp luật cho phép. Trong công cuộc xây dựng và đảm bảo Nhà nước pháp quyền, thì sử dụng pháp luật mang tính xã hội vô cùng to lớn, nó thể hiện tính tích cực pháp lý của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là đối với công dân trong việc sử dụng một cách có văn hóa pháp luật các quyền hiến định và luật định của mình. Bằng ý chí của mình, các chủ thể tự cân nhắc xem có nên dùng các quyền chủ thể mà đã được pháp luật bảo vệ hay không, nghĩa là không bị ép buộc bởi một quy định hay một tác nhân nào khác. Điều này cho thấy rằng, mỗi chủ thể đều được pháp luật trao cho các quyền nhất định, nhưng các chủ thể này có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền đó, đây chính là đặc điểm để so sánh giữa hình thức sử dụng pháp luật so với các hình thức thực hiện pháp luật khác.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị B xâm phạm, A có quyền khởi kiện B ra tòa án vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa án có thẩm quyền. Khi đó, A được xem là đang “sử dụng pháp luật”. + Áp dụng pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua nh ng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa nh ng quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. Ví dụ: Khi A khởi kiện B ra tòa, Tòa án đó có trách nhiệm xem xét và thụ lý đơn khởi kiện của A.
Theo đó, Tòa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật” Hiện nay, về góc độ học thuật thì các học giả Việt Nam có những quan niệm về “áp dụng pháp luật” và có những cách tiếp cận khác nhau.