CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN SINH THÁI 1. Sự ra đời và phát triển của nhãn sinh thái Hiện nay môi trường đang là vấn đề nóng của toàn nhân loại. Biến đổi khí hậu, tài nguyên cạn kiệt, suy giảm đa dạng sinh học, hiệu ứng nhà kính,… là những hậu quả từ những tác động tiêu cực đối với môi trường của con người trong quá trình khai thác, sản xuất. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng được nâng cao.
Tiêu chí sử dụng những sản phẩm an toàn, ít gây hại đến môi trường giờ đây càng được người tiêu dùng chú ý. Cho dù trong nhiều trường hợp, việc tuân thủ các điều luật về môi trường có thể làm tăng giá thành nhưng xu thế là các sản phẩm đạt các yêu cầu môi trường cao hơn vẫn được ưa chuộng hơn. Và để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng các nhà sản xuất phải thay đổi, cải tiến công nghệ, kỹ thuật, thay đổi phương pháp sản xuất, thiết kế lại các sản phẩm mang tính thân thiện với môi trường hơn và sau đó quảng cáo cho người tiêu dùng về các ưu thế về môi trường của sản phẩm. Bên cạnh đó hầu hết Chính phủ của tất cả các quốc gia đều đang tăng cường kiểm soát các hoạt động công nghiệp, nghiêm khắc xử phạt việc vi phạm các điều luật và các giới hạn cho phép về môi trường.
Các hình phạt dân sự và hình sự mới, nghiêm ngặt hơn về vi phạm luật và các quy định môi trường đang được các nước phát triển đặc biệt chú trọng áp dụng. Đặc biệt là các vi phạm dẫn tới nguy cơ tổn hại về sức khoẻ, tổn hại lâu dài cho tài nguyên đất, nước mặt, nước ngầm,. Tình hình đó buộc các doanh nghiệp phải tiến hành các biện pháp giám sát cần thiết để minh chứng rằng họ đáp ứng các yêu cầu cho phép hoặc tuân thủ các điều luật về môi trường. Việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm tới người tiêu dùng được thể hiện dưới hình thức nhãn hiệu trên sản phẩm hoặc trên bao bì.
Để đảm bảo uy tín, các nhà sản xuất thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn. Các nước trên thế giới đã thành lập các chương trình cấp nhãn hiệu như vậy, do đó, chương trình nhãn sinh thái ra đời. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Năm 1978, Đức bắt đầu chương trình nhãn sinh thái cùng với việc giới thiệu nhãn hiệu “Thiên thần xanh” cho các sản phẩm đã được lựa chọn. Kể từ đó hơn 40 quốc gia đã chấp nhận và tổ chức các chương trình tương tự về nhãn sinh thái.
Năm 1988, Canada bắt đầu một chương trình gọi là “Biểu trưng sinh thái”. Chính phủ nước này đã lựa chọn các loại sản phẩm quan trọng dành cho việc đánh giá môi trường. Tiêu chuẩn cho các nhóm sản phẩm này được xây dựng bởi ngành công nghiệp, các cơ quan của Chính phủ và các tổ chức môi trường. Tiêu chuẩn được xây dựng đảm bảo cho các sản phẩm giảm được sự ảnh hưởng xấu đến môi trường ở mức tối thiểu.
Để có được “Biểu trưng sinh thái”, các sản phẩm phải đáp ứng được các tiêu chuẩn mà Chương trình đã đề ra. Năm 1989, ở Mỹ, một chương trình tương tự cũng được thực hiện với tên gọi “Con dấu xanh”. Chương trình do một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận thiết kế theo Chương trình nhãn sinh thái của Canada. Để tham gia chương trình này, các hãng sản xuất phải trả chi phí theo từng sản phẩm cho các tổ chức được chỉ định thực hiện việc thử nghiệm để cấp chứng nhận.
Năm 1992, Chương trình nhãn sinh thái của Liên minh Châu Âu (EU) cũng đã được thành lập từ Chiến lược “Thúc đẩy việc sản xuất và tiêu dùng bền vững”. Chương trình này hoàn toàn mang tính tự nguyện. Doanh nghiệp, nhà cung cấp, đại lý bán buôn, bán lẻ, nhà nhập khẩu có thể nộp đơn để được quyền sử dụng nhãn hiệu sinh thái của EU. Hai loại sản phẩm đầu tiên được chương trình thí điểm là giấy mỏng và chất phụ gia cho đất.
Hiện nay sự xuất hiện của nhiều nhãn hiệu sinh thái khác nhau đang gây phiền toái và có thể gây ra các rào cản kỹ thuật đối với hoạt động thương mại. Đặc biệt là sự phát triển của các biểu tượng, ký hiệu gây khó hiểu cho người tiêu dùng đã dẫn tới việc cần có các nguyên tắc hướng dẫn chung đối với nhãn sinh thái. Ý tưởng về một nhãn hiệu sinh thái mang tính quốc tế đã được ISO quan tâm và triển khai. Phân ban kỹ thuật ISO/TC207/SC3 về nhãn sinh thái được thành lập năm 1991 để xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế cho vấn đề này.
Trước tình hình chương trình nhãn sinh thái ngày càng được mở rộng, các nước đang phát triển cũng bắt đầu xây dựng chương trình nhãn sinh thái riêng cho quốc gia mình như “Dấu sinh thái” của Ấn Độ, “Nhãn xanh” của Singapore,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong nhiều năm qua, chương trình nhãn sinh thái đã và đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước và đã dần hình thành một mạng lưới toàn cầu về nhãn sinh thái. Khái niệm và phân loại nhãn sinh thái 1. Khái niệm Nhãn sinh thái là một khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về những khái niệm liên quan đến tính thân thiện với môi trường sinh thái của hàng hóa và dịch vụ, khái niệm nhãn sinh thái có những cách hiểu tương đối phổ biến như sau: Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) thì: “Nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm”. Theo quan điểm của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Ngân hàng thế giới (WB), nhãn sinh thái được hiểu là “một công cụ chính sách do các tổ chức phát hành ra để truyền thông và quảng bá tính ưu việt tương đối về tác động tới môi trường của một sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại”. Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) lại đưa ra khái niệm “Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu về sản phẩm, tạp chí kỹ thuật, quảng cáo hoặc các hình thức khác”. Dù được hiểu theo cách nào, nhãn sinh thái đều cho thấy mức độ giảm thiểu tác động xấu của sản phẩm đến môi trường trong tất cả các giai đoạn hoặc trong một giai đoạn vòng đời sản phẩm, từ lúc khai thác nguyên, nhiên liệu để làm đầu vào cho quá trình sản xuất đến quá trình sản xuất, đóng gói, sử dụng và loại bỏ sản phẩm đó.
Nhãn sinh thái chỉ được cấp cho những sản phẩm ít tác động xấu đến môi trường nhất so với các sản phẩm khác có cùng chức năng. Về bản chất, nhãn sinh thái là một thông điệp truyền tải tính ưu việt đối với môi trường của sản phẩm. Tóm lại, có thể hiểu nhãn sinh thái là loại nhãn được dùng để chỉ ra những sản phẩm có mức độ ưu tiên chung về môi trường cao hơn so với những loại sản phẩm khác trong cùng một nhóm sản phẩm trên cơ sở đánh giá những tác động và ảnh hưởng lên môi trường của toàn bộ vòng đời của sản phẩm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại nhãn sinh thái Năm 1993, sau khi bộ tiêu chuẩn ISO 9000 (Bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng) đạt được những thành công và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, ISO bắt đầu hướng tới lĩnh vực Quản lý môi trường và đã thành lập Ủy ban TC 207 để xây dựng các tiêu chuẩn về quản lý môi trường. Phạm vi cụ thể của TC 207 là tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực các công cụ và hệ thống quản lý môi trường. Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là một bộ tiêu chuẩn tự nguyện quốc tế chỉ ra các khía cạnh khác nhau của việc quản lý môi trường. Tiêu chuẩn về Nhãn sinh thái là nhóm tiêu chuẩn nằm trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000.
Theo tiêu chuẩn ISO, nhãn sinh thái được chia làm ba loại, gọi tắt là nhãn loại I, loại II và loại III. - Chương trình nhãn sinh thái loại I (ISO 14024) Chương trình nhãn sinh thái loại I là chương trình tự nguyện, dựa trên đa tiêu chí của bên thứ ba nhằm cấp chứng nhận ủy quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự thân thiện với môi trường nói chung theo loại hình cụ thể dựa trên việc xem xét chu trình sống của sản phẩm. Sơ đồ mối quan hệ giữa các bên tham gia chương trình nhãn sinh thái loại I Cơ quan cấp nhãn Bên thứ thứ ba ba Nhà cung cấp Người tiêu dùng Bên thứ nhất Bên thứ hai Bên thứ hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ưu điểm: Các hướng dẫn ISO 14024 đưa ra có tính tổng hợp cao, toàn diện, bao quát được toàn bộ quá trình xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn môi trường. Bắt đầu từ những yêu cầu về một chương trình hoàn toàn mang tính tự nguyện, công khai, minh bạch là yếu tố quan trọng tạo niềm tin cho người tiêu dùng sản phẩm và người sử dụng nhãn, từ đó thúc đẩy sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp, nhà sản xuất, đại lý,… Bên cạnh đó chương trình hoàn toàn tạo điều kiện thuận lợi cho những người có nguyện vọng đều có cơ hội và được hưởng ngang nhau khi tham gia chương trình.
Nhược điểm: ISO 14024 đưa ra yêu cầu đánh giá vòng đời sản phẩm một cách toàn diện đã vô hình chung tạo ra rào cản về tiêu chuẩn giữa các quốc gia khác nhau. Sự khác nhau về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, công nghệ, nguồn tài nguyên,… sẽ dẫn đến khó có thể thừa nhận lẫn nhau giữa các chương trình, do đó dẫn đến việc cản trở sự xâm nhập thị trường giữa các quốc gia và một rào cản thương mại đã xuất hiện. Ngoài ra tiêu chuẩn ISO 14024 còn đề cập đến việc lấy ý kiến tư vấn của tất cả các bên liên quan, việc này thường làm tăng thêm chi phí hoạt động. Một hạn chế nữa của chương trình cấp nhãn theo tiêu chuẩn ISO 14024 đó là tại những khu vực mà nhu cầu và nhận thức của người dân về nhãn sinh thái ở mức độ cao thì có thể phát sinh hiện tượng lợi dụng nhãn để hình thành sự độc quyền hay thôn tính các doanh nghiệp không có nhãn.