CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm án lệ và ý nghĩa của án lệ 1. Khái niệm án lệ Án lệ theo tiếng Pháp (Jurisprudence) được hiểu là việc diễn giải đường lối áp dụng luật pháp của các Tòa án tại một khu vực tài phán, điều này được xem như một tiền lệ, khiến cho thẩm phán có thể áp dụng đối với các vụ việc tương tự. Việc xét xử theo án lệ là việc Tòa án cấp dưới áp dụng các phán quyết có sẵn trước của các Tòa án cấp trên để đưa ra một phán quyết mới tương tự đối với một vụ việc tương tự.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu luật học theo hệ thống luật Anh-Mỹ (Anglo – Sacxon), án lệ được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa tổng quát thì án lệ là toàn bộ các quyết định, bản án được ban hành bởi Tòa án và có giá trị làm nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, căn cứ áp dụng đối với các vụ việc xảy ra tương tự sau này, hoặc là việc áp dụng các nguyên tắc có sẵn hoặc là những căn cứ áp dụng nhằm quyết định các vụ việc xảy ra sau này tiếp theo. Theo nghĩa rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đối với Thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc nhất định đều phải căn cứ trước tiên trên cơ sở bản án, các vụ việc trước đó, cụ thể là các phán quyết của các Tòa án cấp cao (Hight Court), Tòa sơ thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hoặc những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra thông qua các quyết định tố tụng, hoặc hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành từ các quyết định của Tòa án. [18] 9 Với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, là hệ thống pháp luật Dân sự - Civil Law, điển hình một số nước: Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản. , án lệ được coi như một cách giải thích pháp luật.[18] Những bản án dù không được coi là luật, không có tính chất ràng buộc pháp lý song chắc chắn tòa cấp dưới sẽ phải xem xét, nếu không khả năng để tòa cấp trên sửa bản án, huỷ là vô cùng cao.
Cơ sở hình thành án lệ là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Có khi là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, Tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật hợp lý và đúng với mỗi bản án nhằm đưa ra một phán quyết có tính thuyết phục, bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật. Hơn nữa, bản án còn có thể được Tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng phổ biến đối với các vụ việc tương tự có khiếm khuyết quy phạm pháp luật nhưng không có dẫn chiếu quy phạm pháp luật rõ rệt. Tại các nước phát triển, thuật ngữ án lệ hay Case Law được gọi là tiền lệ pháp (Precedent) là một trong những nguồn luật thiết yếu, quan trọng đối với hệ thống pháp luật của Nhà nước và được áp dụng phổ biến đối với quá trình xét xử của Tòa án.[31] Theo đó, những bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc tại các tuyển tập án lệ làm căn cứ, khuôn mẫu giúp Tòa án đưa ra phán quyết trong giải quyết những vụ việc, vụ kiện có tình tiết hay vụ việc tương tự giống quy phạm pháp luật.
Tiền lệ pháp tại các nước khác nhau là quá trình lập pháp của Tòa án thông qua việc công nhận, áp dụng các nguyên tắc mới, áp dụng các điều luật mới khi xét xử. Với việc tiếp cận từ khía cạnh tổng quát nhất, ta thấy thuật ngữ án lệ chứa đựng những nội dung căn bản của thuật ngữ tiền lệ pháp và tuy vẫn có một số dị biệt trên phương diện thuật ngữ nhưng chúng đều có chung một khái niệm. Về thực chất, án lệ cũng có thể là tiền lệ pháp chứ không phải là một, vì cả hai cùng bắt nguồn từ Tòa án và hình thành sau quá trình xét xử. Tiền lệ pháp là thuật ngữ nhằm mô tả một hình thức pháp luật, và án lệ là 10 thuật ngữ mô tả nguồn của pháp luật nhưng nguồn của pháp luật cũng chính là hình thức pháp luật.
Theo định nghĩa, tiền lệ pháp là một hình thức pháp luật hay quá trình làm luật của Tòa án còn án lệ là những bản án, quyết định được Tòa án làm căn cứ pháp lý áp dụng sau này nhằm giải quyết những vụ việc, vụ kiện có tình tiết tương tự. Đây thật ra không phải là hai thuật ngữ, nhưng người ta gọi là bản án sau này có giá trị áp dụng tương tự và được cơ quan pháp luật có thẩm quyền lựa chọn công bố và cho ấn hành phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu pháp luật và tài liệu tham khảo gọi là sách án lệ hay tuyển tập án lệ. Hiểu đơn giản hơn, án lệ là hệ thống những nguyên tắc pháp luật đã được công nhận và hình thành bởi các quyết định của Tòa án, là hệ thống nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp. Những nguyên tắc trên cũng yêu cầu Thẩm phán thuộc hệ thống các cơ quan Tòa án khi xét xử một vụ việc nhất định phải căn cứ ngay trên các bản án, hoặc vụ việc tương tự trước đó.
Tóm lại, trong luận văn này, Án lệ được hiểu là toàn bộ các quyết định, bản án được công bố bởi Tòa án và có giá trị làm nguồn luật, được sử dụng làm căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc xảy ra trong tương lai và đưa ra những nguyên tắc, tiền đề áp dụng đối với các vụ việc xảy ra tương tự. Ý nghĩa của án lệ Qua thời gian áp dụng vào thực tiễn xét xử, án lệ đã thể hiện những hiệu quả tích cực trong việc giải quyết các vụ việc, có nhiều ý nghĩa như sau: Án lệ dựa vào thực tiễn, tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế. Các điều luật, các nguyên tắc án lệ không phải sẵn có mà phải hình thành lâu đời từ việc đúc rút kinh nghiệm trong thực tiễn phạm tội, các quy luật tạo ra án lệ mang tính xã hội mà không phải mang tính tự nhiên. Thế nên, án lệ mang tính xã hội có tính vận dụng, thực tiễn cao.
11 Đời sống văn hóa xã hội liên tục thay đổi, vận động không ngừng nghỉ nên các quy định tại các văn bản pháp luật mang tính cố định, kết quả là pháp luật có thể lỗi thời, thậm chí thiếu hụt nhằm xử lý các tình huống đang nảy sinh của đời sống. Để khắc phục vấn đề trên, án lệ được ra đời nhằm giải thích pháp luật đối với những quan hệ không có quy phạm pháp luật thành văn điều tiết đặc biệt là đối với lĩnh vực kinh tế hoặc nhằm khắc phục tình trạng thiếu vắng của hệ thống pháp luật có thể sử dụng tập quán hoặc tiền lệ pháp. Có thể khắc phục được lỗ hổng pháp luật một cách mau chóng, kịp thời, thích hợp với những vấn đề pháp luật mới phát sinh chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, án lệ có thể khắc phục được lỗ hổng pháp luật. Án lệ thể hiện tính khách quan và công bằng trên cơ sở án lệ là kết quả của quá trình đưa ra những lý lẽ và tranh luận lâu dài từ vụ việc ban đầu cụ thể phác thảo những nét cơ bản để thừa nhận là giá trị và lý lẽ, lập luận chung.
Án lệ nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động xét xử trên cơ sở công khai các bản án, quyết định của tòa án trên công thông tin điện tử của TANDTC và được coi là “nguồn mở” cho các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền giáo dục pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng viện dẫn để phục vụ công tác của mình. Án lệ cũng sẽ làm cho quá trình tranh tụng tại Tòa án trở nên có hiệu quả hơn vì trong phiên tòa, phần tranh tụng luôn là phần quan trọng nhất, có tính quyết định đến kết quả của phiên tòa nhưng thực tế thì quá trình tranh tụng vẫn diễn ra chưa đúng hiệu quả, nhiều khi đương sự, luật sư trình bày quan điểm, đưa ra những luận cứ xác đáng nhưng kết luận của Tòa án cũng không có gì thay đổi. Việc sử dụng án lệ sẽ hạn chế và giảm bớt thực trạng này bởi vì lúc đó Tòa án phải thận trọng hơn khi ra phán quyết để không trái với những gì mà Tòa án đã từng quyết định. 12 Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán, Người tham gia tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội.
Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề một kiểu. Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tòa án là không bình đẳng. Đồng thời, áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro.
Khái niệm vụ án hành chính, áp dụng án lệ, đặc điểm của áp dụng án lệ 1. Khái niệm vụ án hành chính Vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính được Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo yêu cầu khởi kiện hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính. [23] Vụ án hành chỉ chỉ phát sinh khi có việc khởi kiện hành chính. Thụ lý vụ án hành chính là việc Tòa án chấp nhận giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức.
Trên cơ sở thông báo thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hành chính. Để giải quyết vụ án hành chính có 02 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử.