đặt vấn đề: điều gì đã khiến cho các tình nguyện viên trong các tổ chức phi lợi nhuận gắn kết với công việc của họ và làm thế nào để sự gắn kết này thấm nhuần vào những người khác?Meyer & Allen (1997) đã xem gắn kết với tổ chức như một trạng thái tâm lý, thể hiện qua gắn kết cảm xúc, gắn kết duy trì và gắn kết chuẩn mực. Theo Caught & Shadur (2000), gắn kết với tổ chức là cam kết của nhân viên trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Nhìn chung các tác giả đều có điểm chung khi nói về gắn kết tổ chức là mối liên kết tâm lý của nhân viên và tổ chức của họ.2 Các thành phần của gắn kết với tổ chức Theo Porter & cộng sự (1974) trích trong Angle (1981) thì gắn kết với tổ chức gồm 3 thành phần chính: (1) niềm tin mãnh liệt và chấp nhận các mục tiêu của tổ chức, (2) sẵn sàng nỗ lực trên danh nghĩa của tổ chức, (3) mong muốn duy trì thành viên của tổ chức. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng gắn kết với tổ chức không chỉ dự báo cho việc giữ chân nhân viên mà còn có thể dự báo về nỗ lực và thành tích của nhân viên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Trong nghiên cứu của mình, Bachana (1974)đã nghiên cứu gắn kết tổ chức với ba thành phần: (1)sự nhận biết giá trị và các mục tiêu của tổ chức, (2) sự tham gia – chăm chỉ với vai trò công việc, (3) lòng trung thành với tổ chức. Dựa trên kết quả phân tích nhân tố từ bảng câu hỏi gắn kết tổ chức (Mowday & cộng sự, 1979; Porter & cộng sự, 1976) Angle & Perry (1981) đã trình bày hai nhân tố chính bao gồm: thứ nhất nhân tố đánh giá sự nỗ lực cho các mục tiêu của tổ chức gọi là gắn kết giá trị và nhân tố gắn kết duy trì đánh giá mong muốn ở lại tổ chức của nhân viên. Và dựa vào những khám phá này, Mayer & Schoorman (1992, 1998) cũng đã đề xuất hai thành phần của gắn kết với tổ chức bao gồm: gắn kết duy trì và gắn kết giá trị (trích Meyer, 2001). Meyer & Allen (1991) đã xác định ba loại gắn kết với tổ chức như một trạng thái tâm lý, thể hiện qua gắn kết cảm xúc, gắn kết duy trì và gắn kết chuẩn mực.Trong đó, gắn kết cảm xúc xảy ra khi các cá nhân hoàn toàn tự nguyện gắn kết với tổ chức từ sự thấu hiểu các mục tiêu và giá trị của tổ chức.Những nhân viên này thường có hiệu quả làm việc cao, thái độ tích cực và mong muốn gắn kết với tổ chức.Gắn kết duy trì xảy ra khi nhân viên xem xét về những gì mà họ nhận được từ tổ chức để đổi lấy những nỗ lực từ họ, và những gì họ sẽ mất nếu rời bỏ tổ chức.Những nhân viên này nỗ lực làm việc hết mình khi phần thưởng tương xứng với kỳ vọng của họ.Gắn kết chuẩn mực xảy ra khi nhân viên ở lại với tổ chức vì các chuẩn mực xã hội.Những cá nhân này thường vâng lời và làm việc thận trọng.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nhân viên này có khuynh hướng thể hiện thái độ và hành vi tương đồng với những nhân viên có gắn kết cảm xúc với tổ chức. Rõ ràng rằng, nghiên cứu của Angle & Perry (1981), Mayer & Schoorman (1992, 1998) và Meyer & Allen (1991) có những sự tương đồng về các thành phần của gắn kết với tổ chức nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt tương đối giữa các tác giả này. Về phần Meryer & Allen hướng đến những ràng buộc tư duy giữa cá nhân và tổ chức, trong khi hai nghiên cứu còn lại hướng về hành vi của nhân viên hơn là tư duy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Trong nghiên cứu này, tác giả đồng ý với quan điểm của Meyer & Allen (1991) rằng gắn kết với tổ chức được thể hiện qua gắn kết cảm xúc, gắn kết duy trì và gắn kết chuẩn mực.3 Mối quan hệ giữa thỏa mãn công việc và gắn kết với tổ chức Theo quan điểm của Rayton (2006), Vilela & cộng sự (2008), Armutlulu & Noyan (2011) trích trong nghiên cứu của Mohamed A.
Rageb & cộng sự (2013), hiện có hai luồng ý kiến khác nhau về mối quan hệ này. Thứ nhất, sự hài lòng công việc được xem như là tiền đề cho sự gắn kết tổ chức. Quan điểm này cho rằng nhận thức về công việc của nhân viên được định hình trước khi họ có nhận thức về tổ chức (Porter & cộng sự, 1974; Koch & Steers, 1978; Mowday & cộng sự, 1982; Chatman, 1991;Fletcher & Williams, 1996; Menguç, 1996; Martin & Bennett, 1996). Trong khi đó, quan điểm thứ hai cho rằng gắn kết với tổ chức là tiền đề cho sự thỏa mãn công việc của nhân viên, nghĩa là khi nhân viên tham gia vào tổ chức liền có cảm giác gắn kết với tổ chức trước khi cảm thấy thỏa mãn với công việc (Schein, 1968; Steers, 1977; Koch & Steers, 1978; Staw, 1980; O'Reilly & Caldwell, 1981; Bateman & Organ, 1983; Silva, 2006; Vilela & cộng sự, 2008).
Cho dù có nhiều tranh cãi nhưng luận điểm thứ nhất vẫn được chấp nhận rộng rãi hơn. Trong nghiên cứu của mình về nhận thức của gắn kết với tổ chức, sự thỏa mãn công việc và dự định nghỉ việc tại các trường đại học phía Nam châu Phi, Adam Martin & Gert Roodt (1999) cũng trình bày có mối quan hệ thuận chiều giữa thoả mãn công việc và gắn kết với tổ chức của nhân viên. Với các lập luận như trên, tác giả đề xuất giả thuyết H1 như sau: Giả thuyết H1: sự thỏa mãn công việc có tác động cùng chiều đến gắn kết với tổ chức của nhân viên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4Nghỉ việc và dự định nghỉ việc 2.1 Khái niệm nghỉ việc và dự định nghỉ việc Dự định nghỉ việc là một thước đo về kế hoạch rời khỏi tổ chức của nhân viên hoặc kế hoạch thay đổi nhân viên trong tổ chức.
Ý định nghỉ việc có thể là tự nguyện hoặc không tự nguyện. Nghỉ việc tự nguyện là tình huống nhân viên tự lựa chọn rời bỏ tổ chức, hoặc để thoát khỏi tiêu cực trong môi trường làm việc hay để theo đuổi những cơ hội tốt hơn về chế độ khen thưởng, thăng tiến hay tài chính (Tumwesigye, 2010).Việc rời bỏ tổ chức cũng gây phát sinh chi phí cho cả nhân viên và tổ chức.Chi phítrực tiếp cho sự chuyển đổi này như: chi phí tái tuyển dụng, đào tạo lại; và chi phí gián tiếp có thể làm giảm tinh thần của các nhân viên ở lại, công việc quá tải, mất nguồn vốn xã hội. Chi phí này có thể còn lớn hơn khi tổ chức mất đi nguồn nhân lực quý báu(Staw, 1980; Dess & Shaw, 2001 trích trong Dotun, 2014). Dự định nghỉ việc còn được định nghĩa là xác suất mà một cá nhân sẽ thay đổi công việc của mình trong một khoảng thời gian nhất định (Sousa, Poza & Henneberger, 2002) và là tiền thân của nghỉ việc thực sự.Mối quan hệ giữa dự định nghỉ việc và nghỉ việc thực sự cũng đã được nghiên cứu rộng rãi trong các nghiên cứu như của Mobley (1977) hay Hom & Griffeth (1991).
Dự định nghỉ việc và nghỉ việc thực sự được đo lường riêng biệt.Tuy nhiên, nghỉ việc thực sự dự kiến sẽ tăng lên theo ý định của nhân viên. Dự định nghỉ việc được định nghĩa là “sự xem xét một cách nghiêm túc về việc rời khỏi công việc hiện tại của một người” (Mor Barak & cộng sự, 2001) Dự định nghỉ việc được Purani&Sahadev (2007) định nghĩa là kế hoạch của nhân viên trong việc rời bỏ công việc hiện tại để tìm kiếm một công việc khác trong tương lai gần(trích Rizwan, 2014). Dự định nghỉ việc đề cập đến ý định tự nguyện của một nhân viên rời bỏ một tổ chức (Mary L. Là sự phản ánh của một khả năng rằng một cá nhân sẽ thay đổi công việc của anh hay chị ta trong một thời gian nhất định (Sousa, Poza & Henne Berger, 2002).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Dự định nghỉ việc của nhân viên là ý định rời khỏi môi trường làm việc hiện tại sang môi trường làm việc khác (Võ Quốc Hưng & Cao Hào Thi, 2009). Có nhiều khái niệm về nghỉ việc, như theo Mobley (1977) cho rằng nghỉ việc là một sự kiện trong một thời điểm cụ thể được đánh dấu bằng việc rời khỏi tổ chức. Hay nghỉ việc là sự rời bỏ tổ chức hiện tại để làm việc tại môi trường khác (trích Nauman, 1992). Theo Tett & Meyer (1993) thì nghỉ việc được hiểu là việc chấm dứt làm việc của một cá nhân trong một tổ chức.
Cũng theo Tett & Meyer (1993) thì nghỉ việc có hai dạng: nghỉ việc tự nguyện và nghỉ việc không tự nguyện: nghỉ việc tự nguyện là do người lao động tự quyết định nghỉ việc, còn nghỉ việc không tự nguyện là do tổ chức quyết định chẳng hạn như sa thải, cắt giảm nhân sự. Rõ ràng rằng, tồn tại sự khác biệt giữa nghỉ việc và dự định nghỉ việc. Nghỉ việc là hành vi thể hiện việc kết thúc sự gắn kết của một cá nhân và tổ chức, trong khi dự định nghỉ việc mới chỉ tồn tại trong suy nghĩ và sẽ trở thành hiện thực nếu không có các tác động tích cực khác. Vì vậy, để giảm tỷ lệ nghỉ việc, gia tăng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức cần nghiên cứu các yếu tố tác động đến suy nghĩ hình thành dự định nghỉ việc, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.
Trong nghiên cứu này, khái niệm dự định nghỉ việc mà tác giả nghiên cứu dựa trên tinh thần nghỉ việc tự nguyện,nói cách khác là việc nhân viên dự định chấm dứt là thành viên của tổ chức để chuyển sang tổ chức khác một cách tự nguyện.2 Mối quan hệ giữa thỏa mãn công việc và dự định nghỉ việc Sự thỏa mãn công việc là yếu tố quan trọng giúp nhân viên làm việc hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Phần lớn các nhà nghiên cứu về chủ đề này đều tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa thỏa mãn công việc và dự định nghỉ việc của nhân viên. Có thể kể đến nghiên cứu của Cotton &Tuttle (1986); Arnold & Feldman (1982); Bluedorn (1982); Price (1977).Tương tự kết quả trên, Mobely (1982) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố này.Điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 này có nghĩa thỏa mãn công việc càng cao thì dự định nghỉ việc càng thấp, và ngược lại.