CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 1.1 Tổng quan về tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ 1.1 Đặc trưng về văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ Vùng châu thổ Bắc Bộ là vùng đất có lịch sử lâu đời của người Việt, đây là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu đồng thời cũng là vùng văn hóa bảo lưu nhiều giá trị truyền thống hơn cả. Bám sát theo tiến trình lịch sử Việt Nam và những cứ liệu lịch sử có thể thấy những nét khái lược về lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng Bắc Bộ. Khu vực đồng bằng Bắc Bộ không phải là vùng có con người sinh sống sớm nhất ở Việt Nam nhưng đây là nơi đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ có tính quyết định sang một hình thái xã hội cao hơn – xã hội có giai cấp và nhà nước sơ khai. Dấu tích sinh sống của người Việt chỉ xuất hiện ở Bắc Bộ từ cuối thời kỳ đá mới, do trước đó đồng bằng Bắc Bộ cùng với các đồng bằng khác đều đang ở giai đoạn hình thành, chưa thích hợp cho đời sống định cư lâu dài của con người.
Nhưng khi đã kiến tạo hoàn chỉnh, trở thành một vùng đồng bằng phì nhiêu, trù phú thuận lợi cho canh tác và sinh sống, đồng bằng Bắc Bộ nhanh chóng trở thành nơi quần tụ của những tộc người, cái nôi của những nền văn hóa rực rỡ của người Việt gắn với nền nông nghiệp trồng lúa nước với những dấu tích còn xót lại của văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn… Bước vào những thiên niên kỷ đầu công nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa Bắc Bộ bắt đầu phải chịu những thách thức, bị rơi vào tình trạng bị đô hộ. Tiếp theo đó là cuộc đấu tranh chống lại những chính sách bóc lột, đồng hóa phong kiến phương Bắc, bảo vệ bản sắc dân tộc trong suốt 10 thế kỷ. Đây là thời kỳ khó khăn nhưng đồng thời nó cũng là thời kỳ đã tạo nên một trong những nét đặc trưng của văn hóa Bắc Bộ sau này là tính chất hỗn dung, đa dạng nhưng mang đậm nét bản địa độc đáo. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, người Việt bước vào thời kỳ tự chủ kéo dài từ 938 đến 1858.
Đây là thời kỳ các vương triều liên tục thay thế nhau xây dựng một quốc gia tự chủ xen giữa là những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, tất cả tạo thành một dòng chảy lịch sử liên tục. Trong đó, đồng bằng Bắc Bộ đóng vai trò quan trọng, là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến, đồng nghĩa với việc trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước. Bước vào giai đoạn bị đế quốc thực dân xâm lược kéo dài từ 1858 đến 1945, dù trải qua nhiều biến cố, chuyển tiếp của lịch sử, xã hội nhưng Bắc Bộ vẫn giữ được vị thế kinh tế - chính trị - văn hóa của mình. Bản sắc văn hóa của Bắc Bộ vẫn không hề bị mất đi dù bản thân nó đã có những bước chuyển mình không nhỏ.
Xem xét lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng Bắc Bộ để thấy vai trò, vị trí quan trọng của Bắc Bộ cũng như văn hóa Bắc Bộ trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Đây là vùng đất lịch sử lâu đời, nơi khai sinh của các triều đại, các trung tâm kinh tế, các giá trị văn hóa truyền thống… Ở bất kì một vùng đất nào, văn hóa luôn bị quy định bởi kinh tế còn kinh tế lại bị quy định bởi điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Với đồng bằng Bắc Bộ, cũng xuất phát từ những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, môi trường tự nhiên, mà từ đó cư dân đồng bằng Bắc Bộ đã tạo ra những sắc thái không thể nhầm lẫn về kinh tế - văn hóa với các khu vực khác. Về vị trí địa lí vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc - Nam, là đầu cầu từ biển xâm lấn lục địa và đồng thời cũng là đầu cầu Nam tiến.
Vị trí địa lý này khiến cho đồng bằng Bắc Bộ trở thành vị trí tiền đồn để tiến tới các vùng khác trong nước và Đông Nam Á, cũng đồng nghĩa với việc Bắc Bộ là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đông Nam Á. Cũng chính vị trí địa lý này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng bằng Bắc Bộ trong giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trở thành vùng đất hội tụ của rất nhiều hệ thống tư tưởng lớn của nhân loại. Bắc Bộ đặc trưng bởi địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, khí hậu thất thường và khác biệt so với các vùng miền khác trong cả nước với khí hậu bốn mùa tương đối rõ nét, có một mùa đông thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18 độ nhưng đến mùa hè lại nóng ẩm. Một trong những đặc trưng tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ là môi trường nước với mạng lưới sông ngòi, ao, hồ.
Các con sông lớn trong vùng như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã. Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực này. Thêm vào đó, Bắc Bộ có một hệ sinh thái phồn tạp, chỉ số đa dạng giữa số giống loài và số cá thể rất cao, thực vật phát triển hơn động vật. Vì vậy mà trong thời tiền sử, kinh tế hái lượm vượt trội hơn hẳn săn bắn.
Từ những điều kiện tự nhiên trên, cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ sống bằng nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp thuần túy. Lại thêm có nhiều sông ngòi, mương máng, ao hồ nên người dân trọng về việc khai thác thủy sản. Đã có lúc việc khai thác ao hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như một câu ngạn ngữ: Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền (nhất thả cá ao, nhì làm vườn, ba làm ruộng) Dù sao, phương thức canh tác chính của cư dân đồng bằng sông Hồng vẫn là trồng lúa nước (khoảng 82% diện tích trồng trọt cây lương thực). Nhưng do đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông cùng với đó là sự lạc hậu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sự tồn tại lâu dài và phổ biến của hình thái sở hữu nhà nước về ruộng đất đã tạo nên tính chất đa thành phần của nền kinh tế.
Vì thế, để tận dụng thời gian nông nhàn, cư 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân Bắc Bộ đã tổ chức thêm những nghành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán nhỏ lẻ… Về mặt xã hội, người Bắc Bộ sống quần tụ thành làng. Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt. Nó là kết quả của các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn. Các vương triều phong kiến đã chụp xuống công xã nông thôn ấy tổ chức hành chính của mình và nó trở thành các làng quê.
Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hội trồng lúa nước, một xã hội của các tiểu nông, một biển tiểu nông. Về mặt sở hữu ruộng đất, suốt thời phong kiến, ruộng công, đất công nhiều là đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ. Do vậy, quan hệ giai cấp ở đây "nhạt nhòa", chưa phá vỡ tính cộng đồng, tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tư cấp tự túc, một tâm lí bình quân, ảo tưởng về sự "bằng vai", "bằng vế" như kiểu câu tục ngữ "giàu thì cơm ba bữa, khó thì đỏ lửa ba lần". Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng.mà còn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực đạo đức và văn hóa.
Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước, khoán ước của làng xã. Các hương ước, hay khoán ước này là những quy định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai, từ quy định về sản xuất và bảo vệ môi trường đến quy định về tổ chức làng xã, ý thức cộng đồng làng xã, vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận. Nhưng cũng vì thế mà cá nhân, vai trò cá nhân bị coi nhẹ. Chính những đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm riêng của vùng văn hóa Bắc Bộ.
Từ đó có thể định tính văn hóa đồng bằng Bắc Bộ là văn hóa lúa nước. Tiếp cận từ hệ sinh thái, nền văn hóa làng mạc ở Bắc Bộ cần được nghiên cứu các đặc điểm xã hội, tư duy của nền văn hóa lúa nước này, chẳng hạn hình thái gia đình là gia đình hạt nhân, đơn vị sản xuất cơ bản là gia đình, trong đó 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vai trò của người phụ nữ được coi trọng. Đâu phải bỗng dưng mà văn hóa cổ truyền lại nêu chủ đề phản Nho giáo: Nhất vợ nhì trời! Nhìn từ nền tảng kinh tế tiểu nông và mối quan hệ vừa hòa hợp vừa tranh đấu giữa người tiểu nông với trời đất nóng ẩm, gió mùa, phù sa, đá ong… và với một quan hệ trên dưới là làng - nước mới có thể hiểu được triết lý nước đôi của cư dân nông nghiệp này. Chính từ cơ sở kinh tế - xã hội này đã làm nảy sinh những sắc thái văn hóa riêng có của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là: - Văn hóa nông nghiệp lúa nước và niềm tin đa thần trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo - Truyền thống đề cao vai trò của người phụ nữ (nguyên lý Mẹ của nền sản xuất nông nghiệp) - Nền văn hóa hỗn dung, đa nguyên, đa dạng.
Từ những đặc trưng của một nền kinh tế nông nghiệp đậm nét nhưng cũng có sự đa dạng của các nghành nghề kinh tế đã tạo ra những sắc thái văn hóa riêng và chính những sắc thái văn hóa đó lại in dấu ấn đậm nét trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.