Tổng quan nghiên cứu

Khu vực bờ biển đảo Cát Hải thuộc thành phố Hải Phòng sở hữu tuyến đê bao dài 20,6 km giữ vai trò huyết mạch bảo vệ an toàn dân sinh và cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Tuy nhiên, toàn bộ hệ thống công trình này được xây dựng trên nền trầm tích trẻ mềm yếu, thường xuyên chịu tác động khắc nghiệt từ sóng biển, triều cường và nước dâng do bão. Thực tế lịch sử ghi nhận cơn bão năm 2005 đã tàn phá nghiêm trọng, làm biến dạng mặt cắt đê đoạn Bến Gót - Gia Lộc dài 3.100 m với cao trình đỉnh từ +4,0 m đến +4,5 m. Tiếp đó, vào năm 2011, hai cơn bão liên tiếp là bão Haima và bão Nock-ten với sức gió đo được tại trạm Hòn Dấu đạt cấp 7 đến cấp 8, giật cấp 9 lúc triều cường đã gây xô sạt nặng nề toàn bộ hệ thống mái kè và chân khay bảo vệ.

Vấn đề kỹ thuật cốt lõi là hiện tượng xói lở chân kè diễn ra liên tục do tác động tương hỗ phức tạp giữa trường sóng vỡ và dòng chảy ven bờ. Vật liệu đá hộc truyền thống được bố trí tại chân kè bị cuốn trôi, đẩy dịch chuyển khỏi vị trí thiết kế ban đầu, kéo theo sự sạt trượt của toàn bộ mái đê phía biển. Luận văn tập trung giải quyết bài toán cấp bách: Nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của dòng ven bờ tới sự ổn định của vật liệu đá hộc bảo vệ chân kè, từ đó xác lập cơ sở khoa học để tính toán kích thước, trọng lượng đá và giải pháp kết cấu gia cố tối ưu cho đê biển Cát Hải.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dải ven bờ đảo Cát Hải, đặc biệt là các đoạn xung yếu từ Bến Gót đến Hoàng Châu dài khoảng 1.500 m. Việc nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao hệ số ổn định trượt của thân đê, giảm thiểu nguy cơ vỡ đê trong các điều kiện thời tiết cực đoan, đồng thời tiết kiệm hơn 40% kinh phí duy tu, sửa chữa khẩn cấp hàng năm cho ngân sách địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý thuyết thủy động lực học ven bờ hiện đại, khởi đầu từ lý thuyết ứng suất tỏa (Radiation Stress) của Longuet-Higgins và Stewart (1964) kết hợp với các phân tích của Bowen (1969). Khi sóng truyền xiên góc vào vùng nước nông và vỡ bờ, gradient của thành phần ứng suất tỏa đóng vai trò lực đẩy thủy động lực học chính hình thành nên dòng chảy dọc bờ có năng lượng lớn.

Độ ổn định của hạt vật liệu dưới tác động của dòng chảy rối sát đáy được xây dựng dựa trên định luật Shields (1936) về ứng suất tiếp giới hạn và công thức kinh nghiệm của Izbash (1930) xác định quan hệ giữa vận tốc dòng chảy tới hạn và đường kính hạt đá. Để đánh giá sự làm việc của đá hộc tại kết cấu chân khay chịu tác động đồng thời của sóng và dòng chảy, luận văn tích hợp lý thuyết ổn định của Van der Meer (1998) và Gerding (1993). Các công thức này thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa chiều cao sóng có nghĩa, số khối dịch chuyển cho phép, độ sâu tương đối tại chân kè trong dải từ 0,4 đến 0,9 và đường kính danh định của khối đá.

Bên cạnh đó, các khái niệm trọng tâm bao gồm: dòng tiêu (rip current), dòng tuần hoàn ven bờ, đường kính tương đương danh định của viên đá hình khối lập phương (thường nhỏ hơn khoảng 20% so với đường kính sàng thực tế), và góc nghiêng mái dốc công trình trong khoảng từ 30 độ đến 90 độ theo mô hình xói Sumer và Fredsoe.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận vấn đề thông qua sự kết hợp giữa phân tích số liệu thực đo lịch sử và công cụ mô phỏng số học mô hình toán thủy lực hai chiều Delft 3D kết hợp mô-đun sóng. Nguồn cơ sở dữ liệu đầu vào bao gồm:

  • Chuỗi số liệu hoa gió và tốc độ gió quan trắc 20 năm (1976-1995) và 12 năm (2000-2011) tại trạm khí tượng Hòn Dấu và Bạch Long Vĩ.
  • Chuỗi quan trắc mực nước biển liên tục 20 năm tại trạm Hòn Dấu (1988-2007) và trạm Cửa Ông (1986-2007).
  • Dữ liệu lưu lượng dòng chảy các sông chính khu vực Hải Phòng năm 2009.
  • Dữ liệu hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy động lực học được đo đạc thực tế tại 2 vị trí trọng điểm là Bến Gót và trạm kiểm tra KT1 trong tháng 3 và tháng 8 năm 2009.

Lý do lựa chọn bộ phần mềm Delft 3D là nhờ khả năng mô phỏng phi tuyến xuất sắc các quá trình tương tác phức tạp giữa chế độ triều, trường sóng ngẫu nhiên và biến dạng dòng chảy cục bộ quanh các mũi đảo ven bờ. Quá trình tính toán mô phỏng được thực hiện trên hệ thống lưới tính toán chi tiết, trích xuất dữ liệu vận tốc dòng chảy và thông số sóng tại 5 vị trí đại diện gồm Hòn Dấu, Đình Vũ, Cát Hải, Bạch Đằng và Lạch Huyện. Các kịch bản tính toán bao quát 2 mùa khí hậu đặc trưng (mùa khô tháng 1 và mùa mưa tháng 7) cùng 3 kịch bản cực trị sóng bão tương ứng với các tần suất xuất hiện 1%, 2% và 5%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô phỏng số trị kết hợp phân tích lý thuyết đã mang lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, trường dòng chảy ven bờ tại khu vực phía Nam đảo Cát Hải chịu sự chi phối mạnh mẽ của dòng chảy do sóng vỡ theo hướng xiên góc kết hợp với triều rút. Vận tốc dòng chảy ven bờ trung bình mùa mưa dao động từ 0,8 m/s đến 1,2 m/s, nhưng trong các kịch bản bão cực trị với tần suất xuất hiện 1%, vận tốc dòng chảy tổng hợp tại vùng chân kè tăng vọt lên mức từ 1,85 m/s đến 2,45 m/s.

Thứ hai, kết cấu chân kè hiện trạng sử dụng đá hộc truyền thống có đường kính từ 0,30 m đến 0,35 m hoàn toàn không đảm bảo khả năng tự ổn định. Khi vận tốc dòng chảy vượt quá 1,50 m/s, tỷ lệ thể tích đá bị dịch chuyển và cuốn trôi tăng vọt hơn 65% so với ngưỡng giới hạn an toàn theo tiêu chuẩn thiết kế.

Thứ ba, sự tương tác giữa chiều sâu nước trước chân kè và chiều cao sóng có ý nghĩa quyết định tới mức độ khoét sâu hố xói. Khi độ sâu tương đối nằm trong khoảng từ 0,45 đến 0,65, biên độ dao động áp lực đáy đạt cực đại, làm giảm 35% lực kháng cắt ma sát giữa các viên đá hộc trong lăng thể bảo vệ.

Thứ tư, nghiên cứu đã lượng hóa được kích thước đá hộc tối thiểu cần thiết để giữ ổn định chân khay. Đối với kịch bản gió bão tần suất 1% kết hợp triều cường, đường kính danh định của đá hộc bảo vệ phải đạt từ 0,55 m đến 0,70 m, tương đương với trọng lượng mỗi viên đá từ 350 kg đến trên 600 kg.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phá hoại chân kè đê biển Cát Hải bắt nguồn từ sự hình thành hố xói sâu cục bộ phía trước lăng thể đá. Khi các cơn sóng lớn vỡ xiên góc dồn dập, ứng suất tỏa sinh ra một dòng xoáy dọc bờ với lưu tốc đáy vượt xa ngưỡng vận tốc xói tới hạn tính theo công thức Izbash. Dòng chảy này cuốn trôi các lớp cát mịn và đá dăm đệm lót, khiến các khối đá hộc lớn hơn mất điểm tựa trọng lực và lăn dần xuống hố xói.

Khi so sánh kết quả tính toán của luận văn với các chỉ dẫn thiết kế trong Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9901-2014 và Tiêu chuẩn Ngành 14TCN130-2002, công thức kinh nghiệm truyền thống thường đánh giá thấp hơn khoảng 25% giá trị vận tốc dòng chảy cục bộ do chưa xét hết tác động cộng hưởng của sóng vỡ vùng bãi cạn. Kết quả thu được từ mô hình Delft 3D cho thấy sự tương thích rất cao với mô hình phân tích ổn định của Van der Meer và các thực nghiệm máng sóng quốc tế.

Để phục vụ công tác thiết kế trực quan, toàn bộ tập dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ tương quan phi tuyến giữa lưu tốc dòng chảy và đường kính đá danh định, kết hợp đồ thị đường cong phân bố lưu tốc dọc bờ qua dải sóng vỡ và bảng tra cứu đa thông số ứng với các cấp sóng bão từ tần suất 1% đến 5%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết luận khoa học, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm bảo vệ vững chắc chân kè đê biển Cát Hải:

Thứ nhất, cải tạo và nâng cấp quy cách vật liệu lăng thể đá hộc chân khay. Tiến hành thay thế lớp đá hộc nhỏ hiện hữu bằng loại đá hộc tuyển chọn có đường kính danh định từ 0,60 m trở lên, trọng lượng tối thiểu đạt trên 450 kg mỗi viên. Mở rộng bề rộng mặt cắt lăng thể chân khay từ 2,0 m lên tối thiểu 3,5 m đến 4,0 m, đặt cao trình đỉnh chân khay chìm dưới mực nước triều kiệt trung bình. Giải pháp này đặt mục tiêu giảm thiểu trên 90% hiện tượng trôi dạt đá khi gặp bão cấp 9 đến cấp 10, hoàn thành thiết kế và thi công trong giai đoạn 2026-2027 do Ban Quản lý Dự án Nông nghiệp và Thủy lợi Hải Phòng chủ trì thực hiện.

Thứ hai, đổi mới kết cấu nối tiếp giữa mái kè và chân khay. Áp dụng kết cấu mảng mềm bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn tự chèn liên kết linh hoạt, phía chân khay sử dụng hệ thống ống buy bê tông cốt thép cải tiến nhồi đá hộc cấp phối chặt kết hợp trải thảm rọ đá gia cường phía ngoài. Thời gian thực hiện thí điểm trên 1.500 m đoạn xung yếu Bến Gót - Gia Lộc trong vòng 12 tháng bởi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, hướng tới nâng hệ số ổn định trượt tổng thể của mái kè đạt trên 1,35.

Thứ ba, xây dựng hệ thống giám sát thủy động lực học và dự báo xói lở định kỳ. Ứng dụng mô hình số trị Delft 3D đã được hiệu chỉnh để cập nhật dữ liệu diễn biến hình thái đáy biển 6 tháng một lần sau mỗi mùa mưa bão. Tích hợp dữ liệu quan trắc tự động từ trạm Hòn Dấu để đưa ra cảnh báo xói lở sớm trước năm 2028, chuyển giao cho Chi cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão Hải Phòng vận hành.

Thứ tư, triển khai giải pháp công trình giảm sóng xa bờ. Xây dựng bổ sung hệ thống mỏ hàn ngầm và đê ngầm giảm sóng bằng đá đổ cách chân đê từ 150 m đến 200 m nhằm tiêu tán năng lượng sóng từ xa và bẫy bùn cát bồi lắng, nâng cao độ bãi biển trước đê lên mức trên +0,5 m. Lộ trình triển khai phân kỳ từ năm 2027 đến năm 2030 do Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị khoa học và thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, cảng và công trình biển. Luận văn cung cấp phương pháp luận và bảng thông số quy đổi chuẩn xác giữa vận tốc dòng chảy, chiều cao sóng và trọng lượng đá bảo vệ, giúp tối ưu hóa kích thước kết cấu chân khay trong các dự án kè biển chịu tải trọng thủy động lực học cao.

Nhóm thứ hai là cơ quan quản lý nhà nước về đê điều và phòng chống thiên tai tại các tỉnh duyên hải Bắc Bộ. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống đê kè ven biển, xây dựng phương án hộ đê phòng lụt chính xác cho các tuyến đê biển xung yếu tương tự tại Nam Định, Thái Bình và Quảng Ninh.

Nhóm thứ ba là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy, Hải dương học và Địa kỹ thuật. Luận văn đóng vai trò như một tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng mô hình Delft 3D trong việc giải quyết bài toán tương tác sóng - dòng chảy - công trình.

Nhóm thứ tư là các nhà thầu xây lắp công trình thủy. Luận văn hướng dẫn các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt về cấp phối hạt đá hộc, giải pháp bố trí xếp đá khan và quy trình thi công chân khay ống buy trong điều kiện ngập triều phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến chân kè đê biển Cát Hải thường xuyên bị phá hủy trong các mùa bão trước đây là gì? Nguyên nhân chính là do kích thước đá hộc thiết kế ban đầu quá nhỏ, chỉ đạt đường kính từ 0,30 m đến 0,35 m và bề rộng lăng thể hẹp dưới 2,0 m. Khi sóng bão cấp 7 đến cấp 9 kết hợp triều cường, vận tốc dòng ven bờ vượt 1,85 m/s đã cuốn trôi toàn bộ đá chân, làm mất chân đứng và gây sạt lở toàn bộ mái kè bê tông phía trên.

Mô hình toán Delft 3D đóng vai trò như thế nào trong việc giải quyết bài toán nghiên cứu của luận văn? Mô hình Delft 3D kết hợp mô-đun sóng giúp tái lập chi tiết bức tranh thủy động lực học tại 5 vị trí ven bờ Cát Hải. Mô hình tính toán chính xác trường vận tốc dòng chảy sát đáy và chiều cao sóng trong các kịch bản thời tiết cực đoan với các tần suất bão 1%, 2% và 5%, cung cấp số liệu đầu vào chuẩn xác để tính toán độ ổn định của đá hộc.

Sự khác biệt căn bản giữa công thức Izbash và công thức Van der Meer khi áp dụng cho chân kè biển là gì? Công thức Izbash chủ yếu tính toán ngưỡng chuyển động của hạt đá dưới tác dụng của dòng chảy ổn định thuần túy trong kênh hở hoặc đáy sông. Trong khi đó, công thức Van der Meer xét đến tác động đồng thời của sóng ngẫu nhiên, độ sâu tương đối tại chân kè trong khoảng 0,4 đến 0,9 và mức độ dịch chuyển khối đá, phản ánh chính xác hơn điều kiện làm việc thực tế của kè biển.

Kích thước và trọng lượng đá hộc tối ưu được luận văn đề xuất cho công trình đê Cát Hải là bao nhiêu? Nghiên cứu đề xuất sử dụng đá hộc có đường kính danh định từ 0,55 m đến 0,70 m, tương ứng với khối lượng mỗi viên đá từ 350 kg đến trên 600 kg. Quy cách này đảm bảo kết cấu chân kè duy trì trạng thái ổn định vững chắc trước các kịch bản sóng bão tần suất cực trị 1% kết hợp triều cường dâng cao.

Làm thế nào để xử lý triệt để nhược điểm của kết cấu chân kè bằng ống buy bê tông truyền thống? Để khắc phục hiện tượng ống buy bị hở mối nối và đẩy trồi khi bãi biển bị xói sâu hơn 1,0 m, cần lấp đầy lòng ống bằng đá hộc cấp phối chặt, đổ bê tông khóa liên kết trên đỉnh ống, đồng thời bổ sung lớp thảm rọ đá gia cố trải rộng từ 3,5 m đến 4,0 m phía ngoài bãi để ngăn ngừa dòng xoáy xói ngầm đáy móng.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định tường minh dòng chảy ven bờ hình thành do sóng vỡ xiên góc kết hợp triều rút là tác nhân thủy động lực học chủ đạo gây xói lở chân đê Cát Hải với lưu tốc cực đại vượt 2,45 m/s.
  • Thiết lập thành công mối tương quan định lượng chuẩn xác giữa lưu tốc dòng chảy đáy, chiều cao sóng bão và đường kính danh định của vật liệu đá hộc bảo vệ chân kè.
  • Đưa ra giải pháp kỹ thuật đột phá với việc nâng đường kính đá danh định lên mức từ 0,55 m đến 0,70 m (trọng lượng từ 350 kg đến trên 600 kg) và mở rộng lăng thể chân khay lên 4,0 m.
  • Chứng minh tính ưu việt của việc ứng dụng mô hình số trị Delft 3D trong phân tích tương tác sóng - dòng chảy ven bờ biển với chuỗi số liệu thực đo kiểm định có độ tin cậy rất cao.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu khoa học hoàn chỉnh và khả thi, sẵn sàng chuyển giao ứng dụng trực tiếp cho các dự án nâng cấp công trình bảo vệ bờ biển tại Hải Phòng và các vùng lân cận.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục triển khai quan trắc đo đạc địa hình đáy biển sau mùa bão giai đoạn 2026-2027 và hoàn thiện các mô hình mô phỏng xói lở 3 chiều thời gian thực. Các đơn vị quản lý đê điều và tư vấn thiết kế xây dựng công trình thủy hãy nhanh chóng ứng dụng bộ thông số tính toán này vào thực tiễn để nâng cao chất lượng công trình và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các dải đê biển xung yếu.