CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm suy thoái kinh tế Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được hiểu là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp của năm.
Nói cách khác, đó là tình trạng tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai hoặc hơn hai quý. Theo định nghĩa của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (NBER): Suy thoái kinh tế là sự giảm sút đáng kể trong các hoạt động kinh tế lan rộng trên toàn nền kinh tế, diễn ra trong nhiều tháng, thường được biểu hiện trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế, thu nhập thực tế, tình hình việc làm, hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại bán buôn - bán lẻ. Theo từ điển chuyên ngành kinh tế Oxford dictionary of Economics (2010): Suy thoái kinh tế là tình huống khi nhu cầu bị chững lại, sản phẩm thực tế làm ra không tăng trong khi thất nghiệp gia tăng. Suy thoái kinh tế thường được nhận thấy khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực giảm trong hai quý liên tiếp.
Sự suy giảm này thường không nghiêm trọng như khủng hoảng kinh tế. Như vậy, qua các định nghĩa đã nêu ở trên, ta có thể nhận thấy những điểm chung rằng: Suy thoái kinh tế là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế trong hai hoặc hơn hai quý liên tiếp của năm. Biểu hiện thông qua sự suy giảm đồng thời của các chỉ tiêu kinh tế như: việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp. Một sự suy thoái kinh tế kéo dài và trầm trọng được gọi là khủng hoảng kinh tế.
Khái niệm hoạt động kinh doanh Theo góc độ pháp lý thì hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi (khoản 16 điều 4 - Luật doanh nghiệp 2014). Trong cuốn Principles of Business Studies của R.Mahesgwari, tái bản năm 2004, bởi Pitambar Publishing Company Pvt.Ltd, tác giả có đưa ra khái niệm hoạt động kinh doanh như sau: Tất cả các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, cung ứng, mua hay bán những hàng hóa và dịch vụ theo một nguyên tắc nhất định, với mục tiêu thu về lợi nhuận, được gọi là hoạt động kinh doanh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn Business tái bản năm 2014, của ba tác giả William M.Kapoor có nêu: hoạt động kinh doanh được hiểu là các nỗ lực có hệ thống của các cá nhân trong việc sản xuất và tiêu thụ, vì mục đích lợi nhuận, các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Như vậy từ các khái niệm trên, ta có thể rút ra: Hoạt động kinh doanh là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng hay giữa các cá nhân với nhau vì mục đích lợi nhuận trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Một số lý thuyết về suy thoái kinh tế và hoạt động kinh doanh 1. Một số lý thuyết về suy thoái kinh tế 1. Lý thuyết về chu kỳ kinh tế Theo PGS. Nguyễn Văn Dần, Học viện tài chính: Chu kỳ kinh tế hay chu kỳ kinh doanh là sự dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm, thường kéo dài trong một giai đoạn từ 2 đến 10 năm, được đánh dấu bằng sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế.1 Chu kỳ kinh tế Nguồn: Tác giả tự nghiên cứu Hiện nay một chu kỳ kinh tế có thể được coi là gồm ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh, quá trình thay đổi liên tiếp này thường xuyên diễn ra nhưng không mang tính định kỳ, cụ thể: Pha suy thoái (Recession): Thể hiện rõ nhất là tốc độ tăng trưởng GDP sẽ suy giảm trong trong 2 hay 3 quý liên tiếp.
Trong giai đoạn suy thoái, các doanh nghiệp sẽ buộc phải: cắt giảm nhân viên, tiết kiệm chi tiêu vì doanh thu bị sụt giảm mạnh; hạn chế tích trữ hàng tồn kho; trì hoãn các kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh. Thất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp tăng cao, thu nhập giảm sút sẽ khiến chi tiêu co hẹp, nền kinh tế vì vậy sẽ tiếp tục trượt dốc. Suy thoái kinh tế sẽ ngừng lại khi nền kinh tế chạm đáy (Trough), từ đây nền kinh tế chuyển vào pha phục hồi. Pha phục hồi (Recovery): Lúc này, GDP bắt đầu tăng trưởng trở lại, và nền kinh tế hồi phục khỏi suy thoái.
Hoạt động kinh doanh bắt đầu tiến triển một chút và doanh nghiệp tuyển lao động trở lại, tăng lượng đặt hàng từ nhà cung cấp. Những nhà cung cấp này sẽ khởi động lại việc mở rộng sản xuất và tuyển nhân viên. Nhiều công ăn việc làm hơn sẽ giúp người lao động cải thiện thu nhập và sau đó tăng chi tiêu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Pha hưng thịnh hay bùng nổ (Boom): Là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn ngay trước mức suy thoái.
Kết thúc pha hưng thịnh GDP bắt đầu có dấu hiệu đi xuống, một pha suy thoái mới bắt đầu. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái kinh tế mới được gọi là đỉnh (Peak) của chu kỳ kinh tế. Những biểu hiện cơ bản của suy thoái kinh tế Suy thoái kinh tế thường có các biểu hiện cơ bản như sau: - Mua sắm của người tiêu dùng giảm mạnh, trong khi đó dự trữ tồn kho của các hãng lại tăng lên ngoài dự kiến. Các hãng kinh doanh cắt giảm sản xuất làm GDP thực tế giảm và đầu tư kinh doanh cũng giảm theo.
Cầu về các nguyên vật liệu giảm; - Cầu về lao động giảm, đầu tiên là sự giảm sút về số giờ làm việc bình quân sau đó là số lượng việc làm giảm và mức thất nghiệp cao hơn; - Giá các mặt hàng nhạy cảm thường giảm khi có suy thoái kinh tế. Sản lượng giảm thì lạm phát thường chậm lại. Giá và tiền công ngày nay ít khi giảm nhưng không tăng nhanh như trước khi có suy thoái; - Lợi nhuận của các hãng kinh doanh giảm mạnh. Giá chứng khoán cũng có xu hướng giảm do dự đoán của các nhà đầu tư về sự đi xuống của chu kỳ kinh doanh.
Tuy nhiên do cầu về tín dụng giảm, lãi suất nói chung cũng giảm xuống trong thời kỳ này. Nguyên nhân của suy thoái kinh tế a. Các cú sốc từ phía cầu Sự suy giảm tổng cầu xã hội cũng có thể là nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế. Có nhiều yếu tố có thể gây ra sự suy giảm trong tổng cầu xã hội, như: - Sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu hay một sự suy thoái nghiêm trọng ở các quốc gia là đối tác thương mại với nhau, ảnh hưởng của suy thoái sẽ nhanh chóng lây lan sang các quốc gia khác thông qua hệ thống thương mại toàn cầu; - Một sự giảm mạnh hoặc sụp đổ trong giá trị các tài sản như: giá cổ phiếu, bất động sản; Hay khủng hoảng tín dụng làm cho các tổ chức tín dụng phải cắt giảm các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản tín dụng cho vay đầu tư nhà ở hay kinh doanh, tỷ lệ lãi suất của các khoản vay này tăng cao kéo theo giảm các khoản đi vay và đầu tư trong nền kinh; - Sự suy giảm trong tiền lương thực tế khiến người tiêu dùng thắt chặt hơn trong hoạt động chi tiêu, ảnh hưởng trực tiếp tới cầu về nhiều loại hàng hóa và dịch vụ; - Sự suy giảm niềm tin của người tiêu dùng hay ảnh hưởng của thời kỳ giảm phát, giảm phát cũng làm gia tăng giá trị thực tế các khoản nợ làm con nợ càng nghèo hơn; - Tỷ giá gia tăng cao ảnh hưởng tới cầu về hàng hóa xuất khẩu, làm gia tăng cầu về hàng nhập khẩu khiến cấn cân thương mại chuyển hướng xấu đi.
Các cú sốc từ phía cung Các cú sốc từ phía cung có liên quan tới yếu tố lạm phát ảnh hưởng tới hàm tổng cung trong ngắn hạn, làm phát đẩy các khoản chi phí lên cao, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận doanh nghiệp và các hoạt động đầu tư: - Sự gia tăng trong giá cả dầu thô, khí đốt kéo theo sự gia tăng các khoản chi phí đầu vào, đẩy lạm phát lên cao và gây ra sự giảm sút trong thu nhập thực tế (dẫn tới tiêu dùng ít hơn) cũng như sự giảm sút trong lợi nhuận của các doanh nghiệp (thu hẹp các khoản đầu tư và có thể gây ra tình trạng cắt giảm nhân công); - Giá cả các đầu vào của các ngành sản xuất công nghiệp nặng tăng cao. Sự dấy lên trong giá cả lương thực, thực phẩm làm gia tăng chi phí sản xuất và giảm sút đối với ngành công nghiệp chế biến; - Ảnh hưởng lạm phát mang tính toàn cầu của các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc kéo theo sự bùng nổ của lạm phát nhập khẩu. Những sai lầm trong các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô Các nguy cơ suy thoái kinh tế có thể đến từ những sai lầm trong các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô như tăng tỷ lệ lãi suất, hay tăng các loại thuế gián thu hoặc trực thu: - Nếu tỷ lệ lãi suất được điều chỉnh tăng để đối phó với sự tăng lạm phát xuất phát từ nền kinh tế trong nước hoặc ngoài nước có thể gây ra sự suy giảm niềm tin khiến các khoản chi tiêu bị thu hẹp, sản lượng sản xuất và số lượng việc làm giảm sút; - Các khoản thuế được điều chỉnh tăng để đối phó với tình trạng thâm hụt ngân sách gây ra sự thu hẹp các khoản thu nhập khả dụng và cầu xã hội hoặc gây tổn thất cho các hoạt động đầu tư kinh doanh. Đặc điểm của suy thoái kinh tế Các nhà kinh tế học thường mô tả các kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý, mỗi kiểu suy thoái lại có những đặc điểm khác nhau: a.
Suy thoái hình chữ V: Suy giảm mạnh nhưng cũng phục hồi nhanh tương ứng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong một đợt suy thoái chữ V, nền kinh tế phải trải qua giai đoạn co hẹp nghiêm trọng với tốc độ nhanh.