chương 1 “Trong chương này, tác giả trình bày tóm tắt và tổng quan về nghiên cứu với lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Qua đó, người đọc có thể nhanh chóng nắm bắt được đề tài nghiên cứu trước khi đi sâu vào nghiên cứu, cụ thể là phần cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận nghiên cứu ở các chương tiếp theo. “ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Phong cách lãnh đạo và các loại phong cách lãnh đạo “Theo Burns (1978), lãnh đạo là người khuyến khích những người đi theo hành động vì những mục đích nhất định, đại diện cho các giá trị và động cơ, nhu cầu và nguyện vọng của cả người lãnh đạo và người đi theo. Lãnh đạo là người biến đổi nhân viên bằng cách đưa ra các mục tiêu và hướng dẫn cách làm để nhân viên đạt được các mục tiêu đó (Bass, 1985).
Lãnh đạo là cá nhân có niềm tin của chính mình và truyền đạt suy nghĩ cũng như cảm nhận của mình đến những người khác để họ hiểu và hành động theo niềm tin đó (Van Linden và cộng sự, 1998). Theo Robbins và Judge (2008) lãnh đạo là khả năng tác động đến một nhóm hướng đến đạt được một tầm nhìn hay một tập hợp các mục tiêu. Một nhà lãnh đạo có thể được định nghĩa là người thúc đẩy cuộc sống trong tổ chức và là người đảm bảo sự ổn định và sự bền vững của tổ chức quanh các mục tiêu (Ababneh, 2009). Nghiên cứu về lý thuyết lãnh đạo có nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm 4 lý thuyết phổ biến: “ Thuyết đặc trưng tính cách: đề cập đến các đặc điểm cá nhân vốn có của các nhà lãnh đạo.
Cá nhân phải có những đặc điểm lãnh đạo như một phần tính cách của họ. Những đặc điểm này được xem là tương đối ổn định, bẩm sinh và có thể áp dụng trong các tình huống khác nhau (Goff, 2003). Thuyết hành vi: được xem là hành vi của các nhà lãnh đạo sử dụng thông qua bản chất của công việc của họ. Yukl (1971) mô tả bốn hành vi cơ bản của một nhà lãnh đạo là : hành vi chỉ thị, hành vi hỗ trợ, hành vi tham gia tìm kiếm ý tưởng và hành vi tìm kiếm sự cam kết từ nhân viên.
Thuyết tình huống : xem hiệu quả lãnh đạo phụ thuộc vào sự kết hợp giữa phong cách lãnh đạo và tình huống. Cách tiếp cận này cũng tập trung vào mức độ kiểm soát và ảnh hưởng của nhà lãnh đạo (Yukl, 2006). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 “Thuyết chuyển đổi : Theo Burn (1978), người lãnh đạo không chỉ đơn thuần là nắm bắt quyền lực mà còn phải có các giá trị hấp dẫn với những người đi theo. Các nhà lãnh đạo hiệu quả là những người có khả năng tạo ra những thay đổi xã hội và có hai loại lãnh đạo cơ bản là : lãnh đạo chuyển tác và lãnh đạo chuyển đổi.
Cả hai bên lãnh đạo và nhân viên thừa nhận mối quan hệ quyền lực của bên kia và cùng nhau tiếp tục theo đuổi mục đích tương ứng. Các nhà lãnh đạo chuyển tác tiếp cận nhân viên cấp dưới với mục đích trao đổi, ví dụ như nhân viên chăm chỉ sẽ được tăng lương, phụ cấp… Các nhà lãnh đạo chuyển đổi tìm kiếm các năng lực tiềm năng của nhân viên cấp dưới bằng cách thỏa mãn những nhu cầu cao hơn để thu hút nhân viên một cách toàn diện. “ Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm về lãnh đạo, tuy nhiên nhìn chung lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong tình huống nhất định. Nhiệm vụ chủ yếu của người lãnh đạo là xác định đúng mục tiêu và đường lối hành động của tổ chức, xây dựng văn hóa tổ chức, động viên khích lệ nhân viên hoàn thành mục tiêu đặt ra.2 Phong cách lãnh đạo chuyển đổi và vai trò của phong cách lãnh đạo chuyển đổi “Burns (1978), đã thiết lập hai khái niệm: "lãnh đạo chuyển đổi" và "lãnh đạo chuyển tác", trong đó lãnh đạo chuyển đổi là một quá trình "các nhà lãnh đạo và nhân viên giúp đỡ lẫn nhau để tiến tới một mức độ tinh thần và động lực cao hơn, cách tiếp cận này đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong nhân viên và các tổ chức.
Nó thiết kế lại nhận thức và giá trị, thay đổi kỳ vọng và nguyện vọng của nhân viên. Cho đến năm 1985, Bass đã mở rộng nghiên cứu của Burns (1978) bằng cách giải thích các cơ chế tâm lý làm thay đổi lãnh đạo chuyển đổi và chuyển tác; Bass cũng sử dụng thuật ngữ "biến đổi" thay vì "chuyển đổi". Bass thêm vào các khái niệm ban đầu của Burns (1978) để giúp giải thích cách lãnh đạo chuyển đổi có thể được đo lường, cũng như cách nó tác động đến động cơ và hiệu suất của tổ chức. Theo Bass (1999) lãnh đạo chuyển đổi được định nghĩa là một quá trình mà theo đó các nhà lãnh đạo truyền cảm hứng cho nhân viên của họ thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ở mức cao hơn dự kiến và có khả năng vượt quá lợi ích của chính nhân viên đối với tầm nhìn chung, những thành tố của phong cách lãnh đạo chuyển đổi là tạo một tầm nhìn chiến lược; truyền đạt tầm nhìn; làm mẫu về tầm nhìn và xây dựng cam kết của thành viên đối với tầm nhìn.
Theo đó, nhà lãnh đạo chuyển đổi tác động đến nhân viên thông qua bốn khía cạnh : “ Ảnh hưởng lý tưởng: Các nhà lãnh đạo chuyển đổi có các tiêu chuẩn và giá trị đạo đức cao và tuân thủ một quy tắc đạo đức, cung cấp tầm nhìn và sứ mệnh cho nhân viên, do đó những người nhân viên tôn trọng và ngưỡng mộ họ (Northouse, 2004). Bằng cách cung cấp ảnh hưởng lý tưởng, nhà lãnh đạo đóng vai trò như là một mô hình lý tưởng cho những người nhân viên noi theo. Điều này đạt được thông qua việc chia sẻ một tầm nhìn rõ ràng và giải thích cho nhân viên cách để đạt được tầm nhìn. (Bass, 1985) Động lực truyền cảm hứng: Đề cập đến một nhà lãnh đạo làm tăng mức độ động lực của các nhân viên ngoài mong đợi của họ.
Thông qua động cơ cảm hứng, các nhà lãnh đạo chuyển đổi truyền cảm hứng và thúc đẩy nhân viên với những ý tưởng mới hoặc những mục tiêu mà tổ chức phải đối mặt với những yêu cầu kinh doanh thay đổi (Avolio và Bass, 1988). Các khía cạnh tầm nhìn của lãnh đạo được hỗ trợ bởi các kỹ năng giao tiếp giúp cho tầm nhìn dễ hiểu, chính xác, mạnh mẽ và hấp dẫn. Các nhân viên sẵn sàng đầu tư nhiều nỗ lực hơn vào công việc, họ được khuyến khích, lạc quan về tương lai và tin vào khả năng của họ. “Kích thích trí tuệ : Một nhà lãnh đạo kích thích khả năng của nhân viên để họ suy nghĩ về các vấn đề trước đó trong những cách mới lạ và suy nghĩ một vấn đề từ một góc nhìn mới.
Kích thích trí tuệ còn được hiểu là mức độ mà nhà lãnh đạo thách thức các giả định, chịu rủi ro và thu hút các ý tưởng của người nhân viên. Các nhà lãnh đạo với phong cách này kích thích và khuyến khích sự sáng tạo trong nhân viên, họ nuôi dưỡng và phát triển những người suy nghĩ độc lập. Đối với một nhà lãnh đạo như vậy, việc học là một giá trị và những tình huống bất ngờ được xem là cơ hội để học hỏi. Những người nhân viên đặt câu hỏi, suy nghĩ sâu sắc về mọi thứ và tìm ra cách tốt hơn để thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhiệm vụ của họ.
Nó đề cập đến thực tế là cấp dưới trong một công ty được cho một cơ hội để suy nghĩ về một số cách sáng tạo do họ được phép đóng góp cho quá trình ra quyết định (Nwagbara, 2010). “ Quan tâm từng cá nhân: Các nhà lãnh đạo chuyển đổi sử dụng sự quan tâm cá nhân thông qua lắng nghe tích cực, tư vấn cho họ, và đưa ra những phản hồi cần thiết để giải quyết các vấn đề cá nhân và nghề nghiệp của nhân viên. Nhà lãnh đạo lắng nghe nhu cầu và mối quan tâm của nhân viên để từ đó thể hiện sự đồng cảm và hỗ trợ, giữ thông tin liên lạc mở và đặt những thách thức cho nhân viên, tôn trọng sự đóng góp cá nhân mà mỗi người nhân viên có thể làm cho nhóm. Chính vì vậy, những người nhân viên có một ý chí và nguyện vọng để tự phát triển và có động lực nội tại cho nhiệm vụ của họ (Bass & Riggio, 2006).
Như vậy, nhìn chung bằng cách gây ảnh hưởng lý tưởng bởi các tiêu chuẩn đạo đức, sự quan tâm từng cá nhân, kích thích trí tuệ và truyền động lực cho nhân viên của nhà lãnh đạo, phong cách lãnh đạo chuyển đổi gây ra thay đổi trong các cá nhân và tổ chức. Theo đó, các nhân viên cảm thấy tin tưởng, ngưỡng mộ, trung thành, tôn trọng người lãnh đạo và vì những phẩm chất của nhà lãnh đạo họ sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn dự kiến ban đầu. Các nhân viên của nhà lãnh đạo chuyển đổi có ý thức mạnh mẽ về mục tiêu của tổ chức, tin tưởng vào khả năng của bản thân, sáng tạo và nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ vượt quá lợi ích của họ đối với tầm nhìn chung của tổ chức.3 Chia sẻ tri thức và vai trò của chia sẻ tri thức 2.1 Khái niệm tri thức và phân loại tri thức Theo Davenport và Prusak (1998): “Tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những người có nó.
Trong một tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các văn bản và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ, và nguyên tắc của tổ chức đó.” Tri thức được xem là một trong những tài nguyên chiến lược quan trọng nhất của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 các tổ chức và quản lý tri thức được xem là quan trọng đối với sự thành công của tổ chức.