Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Thuở ban đầu, loài người trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau bằng ngôn ết cùng với tiếng nói để thông tin với nhau. Chữ v mới trong lịch sử văn mình nhân loại và từ đó hình thành hai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 1. Đặc của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 1. Khái niệm về ngôn ngữ nói Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hằng ngày, ở đó người nói và người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể luân phiên nhau trong vai nói và vai nghe.
Do đó, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, người nghe có thể có phản hỏi để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Mặt khác, do sự giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ nên người nói ít có điều kiện lựa. chọn, gọt giữa các phương tiện ngôn ngữ và người nghe cũng phải tiếp nhận, lĩnh hội kịp thời, ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích kĩ. Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng.Ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bỏ sung thông tin.
Đồng thời trong ngôn ngữ nói còn có sự phối hợp giữa âm thanh, giọng điệu với các phương tiện hỗ trợ như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ.của người nói. Trong ngôn ngữ nói, từ ngữ được sử dụng khá đa dạng, có những lớp từ ngữ mang tính khẩu ngữ, có cả những từ ngữ địa phương. các tiếng lóng, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đây, chêm xen. Về câu, ngôn ngữ nói thường dùng các hình thức tỉnh lược, thậm chí chỉ còn một từ (nhất là trong đối thoại); nhưng nhiều khi c nói lại rườm rà, có yếu tố dư thừa, trùng lặp, vì lời nói được tạo ra tức thời, không có điều kiện gọt giữa, hoặc do người nói cố ý lặp lại để ngườ nghe có thể tiếp nhận, lĩnh hị thấu đáo nội dung giao tiếp.
Cần phân biệt nói và đọc (thành tiếng) một văn bản, đọc (thành tiếng) cũng phát ra âm thanh để mọi người nghe, nhưng lệ thuộc vào văn bản đến từng dau cham, dấu phẩy. Cho nên đọc chỉ là hành động phát âm một văn bản viết, nhưng người đọc cố gắng tận dụng những ưu thế của ngôn ngữ nói (ngữ điệu) để diễn cảm. Khái niệm về ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác. Cho nên muốn viết và đọc văn bản, cả người viết và người đọc phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc chính tả, các quy cách tô chức văn.
Mặt khác, khi viết người viết có điều kiện suy ngẫm, lựa chọn, gọt giữa. khi đọc (do chữ viết được lưu giữ ôn định) người đọc có điều kiện đọc lại, phân. tích, nghiền ngẫm để lĩnh hội thấu đáo. Cũng nhờ sự ghi chép bằng chữ trong văn bản mà ngôn ngữ viết đến được với đông đảo người đọc trong phạm vi không gian rộng lớn và thời gian lâu dài.
Ngôn ngữ viết tuy không có ngữ điệu và sự phối hợp của các yếu tố hỗ trợ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.nhưng nó được sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu, của các kí hiệu văn tự, của các hình ảnh minh họa, các bảng biểu, sơ đỏ. Trong ngôn ngữ từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được tính chính xác. tùy thuộc vào phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết sử dụng với tần số cao các từ ngữ phù hợp với từng phong cách. Nhìn chung, trong văn bản viết, người ta tránh dùng các từ ngữ mang tính khẩu.
ngữ, các từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, tiếng tục,. Về câu, trong ngôn ngữ. viết thường có những câu dài, nhiều thành phần nhưng được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp các thành phần phù hợp [21, tr. Phân biệt sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Nói miệng và viết là hai dạng tổn tại hiện thực của các ngôn ngữ phát triển, trong số đó dạng nói miệng (ngôn ngữ âm thanh) là dạng ban đầu.
Sự phân biệt này căn cứ trước hết vào chất liệu được sử dụng để tạo lời: văn bản nói miệng sử dụng chất liệu âm thanh, văn bản viết sử dụng đồ hình, cụ thể là các kiểu chữ viết. Tuy vậy, do sự khác biệt của hai thứ chất liệu này và do sự phát triển của dạng nói miệng và hệ thống chữ viết, dạng nói miệng và dạng viết có những đặc điểm khác biệt cin tuân thủ. Cho nên không phải vô cớ mà sự phân biệt hai dạng văn bản này đã được quan tâm từ lâu và hiện nay vẫn cần phải phân. Sự phân biệt này có tam quan trọng nhất định xét từ quan điểm sư phạm.
như dạy đọc, dạy viết, dạy nói miệng, tránh viết như nói miệng, nhất là đối với bậc học THCS. Gần đây những khác biệt này cũng được quan tâm cả đối với việc nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực của ngôn ngữ học văn ban.46] 'Về mặt lý thuyết, sự phân biệt hai dạng này gặp không ít khó khăn, tức là về nguyên tắc không có những tiêu chuân ôn định cho sự phân biệt đó: lời nói thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội nào cũng có thể tồn tại dưới hai dạng nói miệng và viết 'Về mặt thực hành, sự phân biệt ngôi ìn ngữ nói và ngôn ngữ viết có thể xét ở phương diện chất liệu sử dụng, hoàn cảnh sử dụng, phương tiện bên trong hệ thống ngôn ngữ. Có thể tóm tắt những điềt .m khác biệt đó như sau: Bảng so sánh các điểm khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói Ngôn ngữ viết Về chất liệu sử dụng Ẩm thanh của ngôn ngữ, trải ra trong Chữ viết, trải ra trong không gian thời gian một hướng và một chiều. Có hệ thống dấu câu đặc ngôn ngữ như: cử chỉ, điệu bộ, nét thù.
VỀ hoàn cảni th sit dụng ít được dàn dựng Có đi Kiện dàn dựng, có cơ hội gọt ít có cơ hội gọt giữa, kiểm tra. giữa, kiểm tra. Thường không có Có người nghe trực tiếp (mặt đối mặp). người nhận trực tiếp.
VỀ phương tiện trong hệ thẳng ngôn ngữ VE ngữ âm: Sử dụng đúng và tốt hệ VE chit viết: Viết đúng chuẩn chính. thống ngữ âm cụ thể (cố gắng tránh tả thống nhất toàn dân (tránh phản những đặc thù ngữ âm địa phương hẹp, ánh đặc thù ngữ âm của địa phương thường được gọi là “ngong” khi không hep, nếu không cần thiết. Viết đúng quy cách con chữ, dùng tốt dấu Tuân thủ nghiêm ngặt những quy định hình thức của các văn bản pháp. Yễ từ ngữ: Cho phép sử dụng những từ Về rừ ngữ: Tránh dùng những từ ngữ.
ngữ riêng của phong cách hội thoại của riêng phong cách hội thoại khi thường gặp (như nghi xổ hơi, tắm một không cần thiết. Cần chọn dùng các cái đã, hay phải biết, đẹp hết sảy, ngay từ ngữ phù hợp với phong cách chức. năng của văn bản được tạo lập (tránh dùng những từ ngữ “lạc” phong cách) Về câu: Thường dùng câu ngắn gọn. Về câu: Thường dùng câu ghép dài, Có thể dùng câu tỉnh lược nhiều bộ nhiều bậc.
Có thể dùng câu tỉnh lược phận, kể cả tỉnh lược đồng thời cả chủ chủ ngữ hoặc tỉnh lược bổ ngữ. ngữ và vị ngữ. Thường gặp những kiến Tránh dùng câu tỉnh lược cùng một trúc chuyên dụng trong hội thoại, loại lúc cả chủ ngữ và động từ ở vị ngữ. như bạn có biết không.
cậu không Tránh dùng từ ngữ lặp thừa mà thầy à. , tôi đ không có tác dụng tu từ đủ rõ. Nhiều khi cũng dùng từ ngữ lấp thừa trong câu mà không nhằm mục đích diễn đạt sắc thái tu từ. Sự phân biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trên thực tế tổn tại trong mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ở nơi có sử dụng ngôn từ.
Nếu không tính trong văn chương nghệ thuật, ngôn ngữ được dùng trong các lĩnh vực xã hội khác nhau làm thành những phong cách chức năng khác nhau, cụ thể là năm phong cách hành chính - công vụ, khoa học, báo - công luận, chính luận, hội thoại ngày thường. Sự phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết chung cho năm phong cách này có thể khái quát thành năm điểm sau đây [4, tr. Thứ nhắt, ngôn ngữ nói được coi là ngôn ngữ không quy thức, được tạo ra trong thời gian hiện đương, theo kiểu ứng khẩu, không có cơ hội dé hiệu chính. Chỉ những người nói có kỹ năng cao mới có thể tạo ra được những lời phức tạp trong những điều kiện như vậy.
Ngôn ngữ viết cho phép dừng lại để suy nghĩ và để hiệu chính, giúp người viết có thể tạo ra cú pháp phức tạp hơn và chọn từ ngữ một cách rộng, i hon. Thứ hai, lò hạn bởi trí nhớ ngắn hạn, và những điều khống chế này làm cho việc không điều chỉnh được càng tăng thêm. Thứ ba, nói nhanh hơn viết nhiều, còn đọc thì nhanh (và có hiệu quả) nhiều hơn nghe. Điều đó có nghĩa là người nghe phải xử lý tức thời một chuỗi lời được tạo ra một cách cập rap và chóng bị xóa nhda, việc xử lý này sẽ trở nên dễ đãi hơn nhờ những hình thức cú pháp giản đơn và những từ ngữ giản đơn trong lời người nói.
Còn người đọc thì làm việc với văn bản cổ định, có thể đọc lướt nhanh qua và có thể đọc lại, có thể xử lý những hình thức cú pháp phức tạp và những từ ngữ mang tính riêng tư, và có thể dùng từ điền nếu cần. Thứ tư, lời nói tức thời thường được tạo ra bởi những người nói chuyện mặt đối mặt trong một ngữ cảnh cụ thể. Lời nói tức thời có thể kèm theo cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, và tất cả những cái này đều có tác dụng báo tin. chỉ có thể báo được ý nghĩa về thái độ, có thể nhại theo nhịp của phát ngôn của.
người nói, chẳng hạn như cử chỉ bỏ thõng tay nhanh xuống của người nói có tác dụng miêu tả một người trượt xuống một dốc nghiêng. Thứ năm, ngôn ngữ nói, nhất là ngôn ngữ nói không quy thức (chăng hạn. như trong hội thoại thường ngày), có được những cách thức nhắn giọng, kéo dài, tạo nhịp, và có được phẩm chất của giọng nói mà người nói có thể khai thác một cách triệt để. Những cách thức này được sử dụng để biểu lộ cảm xúc, để dọa 2 dẫm, để xoa dịu, để tán tỉnh.