Đặt vấn đề Công nghệ lên men xốp (Solid State Fermentation/SSF) đã được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp trong những năm qua. Quy trình SSF thu hút các nhà nghiên cứu và các nhà công nghiệp hơn các hệ thống lên men chìm vì những ưu điểm như: Nguồn cơ chất dễ kiếm và rẻ tiền, cơ chất rắn cần ít thời gian cho quá trình tiền xử lý hơn môi trường lỏng, thiết bị lên men đơn giản, loại bỏ nhu cầu kiểm soát nghiêm ngặt nhiều thông số trong quá trình lên men, sản phẩm hầu hết cao hơn, yêu cầu năng lượng thấp hơn, tạo ra ít nước thải hơn, không tạo bọt và thu hồi sản phẩm cuối tương đối dễ dàng. Nhiều loại vi sinh vật được sử dụng trong hệ thống SSF để tạo ra các sản phẩm đa dạng và quan trọng về mặt kinh tế như enzyme, axit hữu cơ, các chất chuyển hóa thứ cấp, kháng sinh, nhiên liệu sinh học, các chất kiểm soát sinh học và vitamin với chi phí thấp và tiêu tốn ít lao động. Nếu điều kiện nuôi cấy được tối ưu hóa và giải quyết được các vấn đề liên quan đến việc mở rộng quy mô lớn hơn và kiểm soát hệ thống trong các điều kiện môi trường khác nhau, thì SSF có thể được sử dụng hiệu quả để đáp ứng nhu cầu rộng rãi của con người thông qua các chế phẩm vi sinh mà không gây ô nhiễm môi trường.
Thế giới đang ngày càng phát triển và tiến bộ, đang hướng đến một nền nông nghiệp bền vững. Do đó, việc sử dụng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ tự nhiên đang dần được thay thế cho các sản phẩm hóa học gây hại đến môi trường. Streptomyces là chi lớn nhất trong ngành Actinobacteria, là chi xạ khuẩn được biết đến có khả năng sản xuất nhiều loại chất có hoạt tính sinh học cao. Do đó việc nghiên cứu chế phẩm sinh học chứa các chủng thuộc chi Streptomyces đang ngày càng được quan tâm.
Trong các chế phẩm, đòi hỏi phải duy trì được mật độ xạ khuẩn cao trong thời gian dài, có chất chuyển hóa thứ cấp hoặc kiểm soát sinh học hay không, phụ thuộc rất lớn vào cơ chất trong chế phẩm. Cơ chất phải đảm bảo sự tăng trưởng và duy trì mật độ mong muốn của 1 chủng vi sinh vật nghiên cứu trong khoảng thời gian chấp nhận được. Vì vậy, tôi đã tiến hành đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của môi trường nuôi tới sinh trưởng của chủng xạ khuẩn Streptomyces krainskii XK16”, nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường nuôi cấy đến khả năng tạo sinh khối cho quá trình lên men. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát các ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy dạng lỏng đến sinh trưởng của chủng xạ khuẩn Streptomyces krainskii XK16.
Khảo sát các ảnh hưởng của môi trường lên men xốp đến sinh trưởng của chủng xạ khuẩn Streptomyces krainskii XK16. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp và bổ sung nguồn dữ liệu về nhóm xạ khuẩn có tiềm năng sản sinh các các chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học. Cung cấp dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về xạ khuẩn này. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ cung cấp chủng xạ khuẩn có tiềm năng sản xuất các sản phẩm hữu ích phục vụ cho nền nông nghiệp nước nhà.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về xạ khuẩn 2. Giới thiệu chung về xạ khuẩn Xạ khuẩn thuộc về lớp Actinobacteria, bộ Actinomycetales, bao gồm 10 dưới bộ, 35 họ, 110 chi và 1000 loài. Hiện nay, 478 loài đã được công bố thuộc chi Streptomyces và hơn 500 loài thuộc tất cả các chi còn lại và được xếp vào nhóm xạ khuẩn hiếm (Nguyễn Lân Dũng & cs.
Xạ khuẩn là vi khuẩn Gram dương, có tỷ lệ GC trong ADN cao hơn 55%. Trong số khoảng 1000 chi và 5000 loài sinh vật nhân sơ đã công bố có khoảng 100 chi và 1000 loài xạ khuẩn (Das & cs. Xạ khuẩn là nhóm vi khuẩn đặc biệt. Chúng có khuẩn lạc khô và đa số có dạng hình phóng xạ (actino-) nhưng khuẩn thể lại có dạng sợi phân nhánh như nấm (myces).
Xạ khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên. Số lượng đơn vị sinh khuẩn lạc (CFU-colony forming unit) xạ khuẩn trong 1g đất thường đạt tới hàng triệu. Trên môi trường đặc đa số xạ khuẩn có hai loại khuẩn ty: khuẩn ty khí sinh (aerial mycelium) và khuẩn ty cơ chất (substrate mycelium). Nhiều loại chỉ có khuẩn ty cơ chất nhưng cũng có loại (như chi Sporichthya) lại chỉ có khuẩn ty khí sinh (Nguyễn Lân Dũng & cs.
Xạ khuẩn phân bố chủ yếu trong đất và đóng vai trò rất quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Chúng sử dụng acid humic và các chất hữu cơ khó phân giải khác trong đất. Xạ khuẩn phân bố trong đất phụ thuộc nhiều vào pH môi trường, thường có nhiều trong lớp đất trung tính và kiềm yếu hoặc axit yếu, trong khoảng pH 6-8. Xạ khuẩn không có nhiều trong lớp đất kiềm hay axit và càng hiếm trong các lớp đất rất kiềm.
Mặc dù xạ khuẩn thuộc nhóm sinh vật nhân sơ nhưng chúng thường sinh trưởng dưới dạng sợi và thường tạo nhiều bào tử. Thậm chí một số loại xạ khuẩn còn hình thành túi bào tử như chi Streptosporangium, Micromonospora và bào tử di động như chi Actinoplanes, Kineosporia (Nguyễn Lân Dũng & cs. 3 Xạ khuẩn là vi khuẩn có khả năng sản sinh các chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học như kháng vi sinh vật, kháng phân bào, ức chế enzyme, ức chế miễn dịch, kháng côn trùng, diệt cỏ và các đặc tính sinh học quý khác. Hai phần ba số thuốc kháng sinh đang sử dụng hiện nay ở người và động vật có nguồn gốc từ nhóm xạ khuẩn, điều này cho thấy vai trò rất lớn của xạ khuẩn trong sản xuất các thuốc kháng khuẩn có nguồn gốc vi sinh vật (Mahajan, 2012).
Trước đây, vị trí phân loại của xạ khuẩn luôn là câu hỏi gây nhiều tranh luận giữa các nhà Vi sinh vật học, do nó có những đặc điểm vừa giống vi khuẩn vừa giống nấm. Tuy nhiên, đến nay, xạ khuẩn đã được chứng minh là vi khuẩn với những bằng chứng sau đây (Nguyễn Lân Dũng & cs., 2012): Một số xạ khuẩn như các loài thuộc chi Actinomyces và Nocardia rất giống với các loài vi khuẩn thuộc chi Lactobacillus và Corynebacterium. Xạ khuẩn giống vi khuẩn ở chỗ không có nhân thật, chúng chỉ chứa nhiễm sắc chất phân bố dọc theo các sợi hoặc các tế bào. Đường kính của sợi xạ khuẩn và bào tử giống với ở vi khuẩn.
Đồng thời sợi xạ khuẩn thường không chứa vách ngăn. Xạ khuẩn là đích tấn công của các thực khuẩn thể giống như vi khuẩn, trong khi đó, nấm không bị tấn công bởi thực khuẩn thể. Xạ khuẩn thường nhạy cảm với các kháng sinh có tác dụng lên vi khuẩn, nhưng lại thường kháng với những kháng sinh tác dụng lên nấm như các polyen. Xạ khuẩn không chứa chitin, chất có mặt trong sợi và bào tử của nhiều nấm, mà không có ở vi khuẩn.
Đồng thời giống như phần lớn vi khuẩn, xạ khuẩn không chứa cellulose. Tương tự với vi khuẩn, xạ khuẩn nhạy cảm với phản ứng acid của môi trường, đặc điểm này không có ở nấm. Các đặc điểm về sợi và nang bào tử kín (sporangium) của chi Actinoplanes cho thấy có thể chi này là cầu nối giữa vi khuẩn và các nấm bậc thấp. Đặc điểm hình thái cấu tạo và kích thước Đa số xạ khuẩn có cấu tạo dạng sợi, các sợi kết với nhau tạo thành khuẩn lạc có nhiều màu sắc khác nhau: trắng, vàng, nâu, tím, xám v.
Màu sắc của xạ khuẩn là một đặc điểm phân loại quan trọng. Đường kính sợi của xạ khuẩn khoảng từ 0,1-0,5 μm (Sharma, 1999). Có thể phân biệt được hai loại sợi khác nhau. Sợi khí sinh là hệ sợi mọc trên bề mặt môi trường tạo thành bề mặt của khuẩn lạc xạ khuẩn.
Từ đây phát sinh ra bào tử. Sợi cơ chất là sợi cắm sâu vào môi trường làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng. Sợi cơ chất sinh ra sắc tố thấm vào môi trường, sắc tố này thường có màu khác với màu của sợi khí sinh. Đây cũng là một đặc điểm phân loại quan trọng.
Một số xạ khuẩn không có sợi khí sinh mà chỉ có sợi cơ chất, loại sợi này làm cho bề mặt xạ khuẩn nhẵn và khó tách ra khi cấy truyền. Loại chỉ có sợi khí sinh thì ngược lại, rất dễ tách toàn bộ khuẩn lạc khỏi môi trường (Nguyễn Lân Dũng & cs. Khuẩn lạc xạ khuẩn thường rắn chắc, xù xì, có thể có dạng da, dạng phấn, dạng nhung, dạng vôi phụ thuộc vào kích thước bào tử. Trường hợp không có sợi khí sinh khuẩn lạc có dạng màng dẻo.
Kích thước khuẩn lạc thay đổi tuỳ loài xạ khuẩn và tuỳ điều kiện nuôi cấy. Khuẩn lạc thường có dạng phóng xạ, một số có dạng những vòng tròn đồng tâm cách nhau một khoảng nhất định. Nguyên nhân của hiện tượng vòng tròn đồng tâm là do xạ khuẩn sinh ra chất ức chế sinh trưởng, khi sợi mọc qua vùng này chúng sinh trưởng yếu đi, qua được vùng có chất ức chế chúng lại sinh trưởng mạnh thành vòng tiếp theo, vòng này lại sinh ra chất ức chế sinh trưởng sát với nó khiến khuẩn ty lại phát triển yếu đi. Cứ thế tạo thành khuẩn lạc có dạng các vòng tròn đồng tâm (Nguyễn Lân Dũng & cs.
Khuẩn lạc xạ khuẩn tuy có dạng sợi phân nhánh phức tap đan xen nhau nhưng toàn bộ hệ sợi chỉ là một tế bào có nhiều nhân, không có vách ngăn ngang. Giống như vi khuẩn, nhân thuộc loại đơn giản, không có màng nhân. Thành tế bào xạ khuẩn giống với thành tế bào vi khuẩn Gram dương. Màng tế bào chất dày khoảng 50 nm và có cấu trúc tương tự như màng tế bào chất của vi khuẩn.
Nhân không có cấu trúc điển hình, chỉ là những nhiễm sắc thể không có 5 màng. Khi còn non, toàn bộ tế bào chỉ có một nhiễm sắc thể sau đó hình thành nhiều hạt rải rác trong toàn bộ hệ khuẩn ty (gọi là hạt cromatin) (Nguyễn Lân Dũng & cs. Sinh sản Xạ khuẩn sinh sản sinh dưỡng bằng bào tử. Bào tử được hình thành trên các nhánh phân hoá từ khuẩn ty khí sinh gọi là cuống sinh bào tử.
Cuống sinh bào tử ở các loài xạ khuẩn có kích thước và hình dạng khác nhau. Có loài cuống sinh bào tử dài tới 100-200 nm, có loài cuống sinh bào tử chỉ khoảng 20-30 nm. Cuống sinh bào tử cấu trúc theo hình lượn sóng, lò xo hoặc xoắn ốc. Sắp xếp của các cuống sinh bào tử cũng khác nhau.