CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ COMMON LAW VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA COMMON LAW TỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ASEAN 1. Các vấn đề chung về hệ thống pháp luật Common Law 1. Khái niệm, tên gọi hệ thống pháp luật Common Law Common Law là một trong những truyền thống pháp luật phổ biến và có ảnh hưởng lớn trên thế giới khi có khoảng 1/3 số hệ thống pháp luật trên thế giới là hệ thống thông luật hoặc hệ thống hỗn hợp có yếu tố thông luật.
Hệ thống pháp luật Common law được nhắc đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Hệ thống pháp luật Anglo (Anglo – Saxon legal family) (tradition), Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Anglo – American law), Hệ thống pháp luật án lệ (Caselaw), Common Law. Thuật ngữ “Common Law” là thuật ngữ mà nghĩa của nó phụ thuộc vào từng ngữ cảnh và từng thuật ngữ mà nó đi kèm: (1) Common law được hiểu là “luật chung áp dụng thống nhất trên tòa nước Anh chứ không phải là luật áp dụng cho từng địa phương. Common law chỉ luật hay tập quán được các tòa án hoàng gia áp dụng sau sự chinh phục của người Norman, thay thế dần luật và các tập quán được áp dụng tại các tòa án địa phương. Ngày nay nghĩa này của thuật ngữ “Common law” đôi khi vẫn được khai thác nhưng không còn là nghĩa thông dụng3.
Theo nghĩa này, Common law được hiểu là được tạo ra bằng các phán quyết của tòa án (án lệ) và tập quán pháp. (3) Common law là “luật” chứ không phải equity “công bằng”. Trước 1873, ở Anh có hai tòa án song song cùng tồn lại một là tòa án pháp luật (court of law/common law court); hai là tòa đại pháp (court of chancery). Từ 1875, hai loại tòa án này đã được xác nhập, tất cả tòa án ở Anh đều phải áp dụng cả common law và 3 TS.
Nguyễn Quốc Hoàn (2017), Giáo trình luật so sánh, Nxb Công an nhân dân, tr 194 11 equity. Nhưng sự phân biệt common law và equity vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong xét xử ở Anh để (i) để xác định vụ việc được đưa đến tòa giải quyết có cần sự có mặt của bồi thẩm hay chỉ giải quyết bởi thẩm phán; (ii) để xác định nguyên tắc áp dụng theo đó tòa án đưa ra biện pháp cưỡng chế phi vật thể. (4) Common law được dùng với nghĩa là luật được dùng trong nước nước Anh và được áp dụng tại cả các thuộc địa của Anh. (5) Hàm chỉ toàn bộ hệ thống pháp luật bắt nguồn từ hệ thống pháp luật Anh để phân biệt với hệ thống pháp luật có nguồn gốc từ Châu Âu lục địa.
Ở đó, phán quyết của tòa giữ vị trí quan trọng trong cấu trúc nguồn luật, thừa nhận án lệ là nguồn luật chính thống và cơ bản. Như vậy, để hiểu đúng ý nghĩa của thuật ngữ này cần phải căn cứ vào ngữ cảnh cụ thể đang được đề cập đến. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, “Common Law” được nhìn nhận dưới góc độ là một hệ thống pháp luật thế giới (một gia đình luật) để phân biệt với những hệ thống pháp luật khác như: Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật Hồi giáo. Trên thực tế, khi thảo luận về Common Law dưới dạng so sánh, các học giả thường chỉ đề cập đến thông luật của Anh và Hoa Kỳ, có thể đề cập đến Australia, New Zealand và Canada.
Đôi khi so sánh Common Law gần như được coi là đồng nghĩa với các nghiên cứu so sánh về luật Anh - Mỹ4. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Common Law a) Lịch sử hình thành Thông luật là một hệ thống mang trên mình dấu ấn sâu sắc của lịch sử nước Anh, còn lịch lịch sử thông luật trước thế kỷ XVIII chính là lịch sử của pháp luật nước Anh5. Quá trình hình thành Thông luật ở Anh có thể điểm qua các mốc chính sau đây: (1) Trước 1066: Giai đoạn Anglo - Saxon Vào những năm 55 đến năm 54 trước Công nguyên, Julius Caesar đã xâm chiến nước Anh và biến Anh thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Từ thế kỷ I đến thế kỷ IV sau Công nguyên, Anh là thuộc địa của Đế quốc La 4 NG, Kwai Hang JACOBSON, Brynna (2017), How Global is the Common Law? A Comparative Study of Asian Common Law Systems – Hong Kong, Malaysia, and Singapore, sian Journal of Comparative Law, 12(2) 5 Những hệ thống pháp luật chính trong , tr 221 12 Mã.
Trong khi hầu hết các nước châu Âu đều có khuynh hướng sử dụng pháp luật La Mã làm nền tảng cho sự phát triển pháp luật nước mình, thì pháp luật Anh nói chung và Thông luật Anh nói riêng lại không chịu không chịu bất cứ ảnh hưởng đáng kể nào từ pháp luật La Mã. Thời kỳ nằm dưới sự cai trị của Đế quốc La Mã, do vị trí địa lý xa xôi (nước Anh là một đảo quốc nằm ở Tây Bắc châu Âu, được bao bọc bởi Đại Tây Dương); do sự chống đối của các chúa đất; trong giai đoạn này ở Anh chưa có chữ viết và nền kinh tế bộ tộc tự cung tự cấp cũng không phù hợp với pháp luật La Mã; hơn nữa Đế quốc La mã không có ý định đồng hóa Anh mà chỉ tập trung vào khai thác khoáng sản, nên ngay cả khi chịu sự thống trị trong hơn bốn thập kỷ, nhưng pháp luật La Mã vẫn không thể để lại những dấu ấn rõ nét trong pháp luật Anh. Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, pháp luật La Mã hầu như không ảnh hưởng đến các tập quán hình thành tại Anh trong giai đoạn Anglo – Saxon6. Khi đế quốc La Mã sụp đổ, các bộ tộc Germen gồm Angles, Danes, Jutes và Saxon tràn vào chiếm ưu thế, những dân tộc này đã áp đặt những tập quán và những nguyên tắc pháp lí của mình lên những vùng đất đã chinh phục được.
Tuy nhiên, những tập quán và nguyên tắc pháp lí của họ không thể thay thế hoàn toàn những tập quán và nguyên tắc pháp lí địa phương vốn đã tồn tại lâu đời trong xã hội của người dân bản xứ. Hơn thế nữa còn xảy ra sự xung đột giữa tập quán pháp luật địa phương và tập quán pháp luật của kẻ đô hộ, những xung đột này hầu như không thể giải quyết được. Nước Anh bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ, trong đó có ba vùng chính, áp dụng ba hệ thống tập quán pháp luật khác nhau. Miền Tây và Nam nước Anh áp dụng luật Wessex, miền Trung áp dụng luật Mercian, còn miền Đông và miền Bắc áp dụng luật Dane.
Pháp luật nước Anh thời kỳ này còn manh mún, tản mạn, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tập quán địa phương, giai đoạn này vẫn chưa tồn tại một nền pháp luật chung cho toàn nước Anh. 78 13 Norman đã diễn ra thành công sau chiến thắng ở trận Hastings. Sau khi thống trị được nước Anh, người Norman đã áp đặt các quy tắc và tập quán pháp lí của mình trên toàn bộ lãnh thổ của Anh. Những nguyên tắc và tập quán pháp luật này đã gây sự ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành pháp luật chung cho mọi miền lãnh thổ Anh quốc.7 Dưới triều đại vua William đệ nhất (1066 – 1087) luật pháp không thay đổi.
Đức vua William đệ nhất “ có kỳ vọng thống trị nước Anh trên cơ sở kế thừa chức hàm chứ không phải với quyền lực của một kẻ chinh phục.Ông tuyên bố có chú ý với việc duy trì hiệu lực của pháp luật Anglo – Saxon”8. Luật pháp Anh lúc đó như hỗn tạp của tập quán địa phương, vẫn tiếp tục được duy trì. William đệ nhất đã tịch thu tất cả đất đai, tuyên bố quyền sở hữu của mình đối với đất đai trên toàn quốc và coi tất cả người sử dụng đất ở Anh là người thuê đất. Ông đã phân chia đất đai cho các thuộc hạ thân cận nhất của mình nhằm lôi kéo sự trung thành nhưng chỉ giới hạn phần đất được chia và phân tán ra khắp nơi trên toàn quốc.
William đệ nhất còn cho thành lập Hội đồng cố vấn cho Quốc vương để kiểm soát việc nộp thuế. Ông xây dựng một chế độ phong kiến hà khắc và tập trung cao độ với tổ chức đơn giản trong đó vua là lãnh chúa phong kiến tối cao, thâu tóm quyền tư pháp, lập pháp và hành pháp. William đệ nhất đã thực thi quyền lực của chánh án tối cao, chỉ giải quyết những vấn đề làm hoàng gia lo ngại và những tranh chấp hết sức đặc biệt; còn những vấn đề của địa phương vẫn tiếp tục do các tòa án quận/ huyện và tòa án bạch hộ khu giải quyết. Vua Henry đệ nhị (1154-1189) là hoàng đế có công trong việc xây dựng hệ thống pháp luật Common law.
Đến thời vua Henry đệ nhị, hệ thống xét xử được cải cách. Hội đồng cố vấn dần chuyển thành 3 Tòa án (Các tòa án Hoàng gia): Tòa án tài chính, tòa án thẩm quyền chung, Tòa án quốc vương, các tòa này có trụ sở ở Westminster. Henry đệ nhị đã cử các thẩm phán từ tòa án Hoàng gia tại Westminster đi giải quyết tranh chấp địa phương trên toàn nước Anh. Ban đầu, họ giải quyết tranh chấp theo cách họ hiểu sao về tập quán địa phương.
Sau mỗi vụ xét xử, các thẩm phán trở về Westminster và thảo luận về những vụ án họ đã xét xử, tập quán họ đã áp dụng và phán quyết mà họ đã ra. Với việc cử các thẩm phán đi giải quyết các vụ án ở địa 7 PGS.Thái Vĩnh Thắng, Tìm hiểu hệ thống pháp luật Anglo – Saxon (Common law), Tạp chí luật học số 6/2003, tr 72 8 Rene David (2003), “Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại”, Nxb TP. Hồ Chí Minh, tr 224 14 phương theo cách mà họ hiểu và nhận thức về tập quán địa phương đó. Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa án ở địa phương: tòa án của tỉnh (county), tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phong kiến… Đến cuối thế kỉ XIII, các Tòa án Hoàng gia thắng thế trong việc xét xử vì chất lượng xét xử tốt và trình độ chuyên môn cao.
Các phán quyết đó đã được ghi chép lại và được gọt giũa, sắp xếp có hệ thống9. Các phán quyết được gọt giũa lại và ghi chép có hệ thống dần trở thành án lệ (Precedent).