Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại các đô thị lớn ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp tới 21,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách cả nước. Sự phát triển mạnh mẽ này tạo ra áp lực chuyển đổi đất đai vô cùng gay gắt tại các vùng ven đô. Được thành lập theo Nghị định 130/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ, quận Bình Tân trở thành tâm điểm đô thị hóa với tốc độ phát triển hạ tầng nhanh chóng. Trong đó, phường Bình Hưng Hòa B có tổng diện tích tự nhiên 732,73 ha (chiếm 14,12% diện tích toàn quận) là khu vực điển hình chịu tác động trực tiếp của các dự án công nghiệp hóa và mở rộng đô thị.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai tập trung giải quyết bài toán biến động quỹ đất nông nghiệp và những tác động đa chiều đến sinh kế của người dân địa phương trong giai đoạn 2004 - 2013. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất; đánh giá tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm như Khu công nghiệp Vĩnh Lộc và Khu dân cư Vĩnh Lộc; đo lường sự chuyển đổi nghề nghiệp, thu nhập và đời sống của 56.766 cư dân trên địa bàn. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 29,1%/năm với mục tiêu an sinh xã hội bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn vận dụng lý thuyết ba khu vực sản xuất của nhà xã hội học Jean Fourastié để giải thích quy luật chuyển dịch lao động tất yếu từ Khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp) sang Khu vực II (công nghiệp) và Khu vực III (dịch vụ - thương mại) dưới tác động của tiến trình đô thị hóa. Đồng thời, khung phân tích sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992) được áp dụng nhằm đánh giá khả năng chống chịu, thích ứng và tích lũy tài sản của hộ gia đình thông qua các nguồn lực tự nhiên, con người, tài chính, vật chất và xã hội.
Các khái niệm chuyên ngành được chuẩn hóa bao gồm: khái niệm đô thị theo Thông tư số 34/2009/TT-BXD, hệ thống phân loại 6 cấp đô thị theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ, quy hoạch sử dụng đất và các hình thái đô thị hóa (đô thị hóa thay thế, đô thị hóa cưỡng bức, đô thị hóa ngược). Các lý thuyết này tạo nền tảng vững chắc để phân tích quá trình chuyển dịch không gian nông thôn - thành thị tại một địa bàn đặc thù.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp linh hoạt giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong suốt thời gian thực hiện đề tài từ tháng 04/2014 đến tháng 12/2014. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hồ sơ địa chính, báo cáo thống kê của Phòng Thống kê quận Bình Tân, Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa B giai đoạn 2004 - 2013, cùng các căn cứ pháp lý như Quyết định 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 10287/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân quận Bình Tân.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 50 hộ dân, thu về 50 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 100%). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống nhằm bảo đảm tính khách quan và đại diện cao cho các nhóm hộ bị thu hồi đất nông nghiệp, hộ tái định cư và hộ kinh doanh thương mại. Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh đối chiếu số liệu liên năm được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác xu hướng biến động đất đai giữa các mốc 2005, 2010, 2012 và phản ánh trung thực mức độ dịch chuyển thu nhập của các hộ dân.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu sử dụng đất có sự thay đổi mang tính bước ngoặt. Đến năm 2012, diện tích đất phi nông nghiệp tại phường Bình Hưng Hòa B đạt 464,85 ha (chiếm 63,44% diện tích tự nhiên), cao gấp 1,73 lần diện tích đất nông nghiệp (267,88 ha). Mặc dù diện tích đất nông nghiệp còn 267,88 ha nhưng có đến 75,38% là đất trồng lúa nước (194,93 ha) ở trạng thái manh mún, xen kẹt trong khu dân cư và hầu như không còn giá trị canh tác thuần túy.
Thứ hai, biến động diện tích đất phản ánh sự phức tạp của công tác quy hoạch. Giai đoạn 2005 - 2010, diện tích đất nông nghiệp tăng kỹ thuật 10,59 ha (từ 268,98 ha lên 279,57 ha) do điều chỉnh ranh giới Khu dân cư Vĩnh Lộc theo Quyết định 10287/QĐ-UBND nhằm trả lại hiện trạng đất theo giấy chứng nhận cho người dân. Tuy nhiên, giai đoạn 2010 - 2012 chứng kiến tốc độ đô thị hóa bùng nổ, làm giảm 11,69 ha đất nông nghiệp và tăng tương ứng 11,69 ha đất phi nông nghiệp.
Thứ ba, tiến độ các dự án quy hoạch phát sinh nhiều điểm nghẽn. Tại dự án Khu dân cư Vĩnh Lộc với quy mô 107,48 ha, công tác giải phóng mặt bằng mới đạt 87,53% (93,88 ha), còn tồn đọng 12,47% (13,60 ha) đất "da beo" chưa thể thu hồi. Tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đạt 22,66% (509/2.246 nền), khiến 77,34% số hộ dân tái định cư chưa được hoàn tất thủ tục pháp lý sở hữu.
Thứ tư, sinh kế người dân dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng phi nông nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của phường luôn duy trì ở mức cao, tăng từ 25% năm 2005 lên 34,9% năm 2013 (bình quân 29,1%/năm). Dân số tăng nhanh đạt 56.766 người với mật độ 7.744 người/km2, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 72% (40.871 người), chủ yếu làm việc trong Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, kinh doanh cá thể hoặc cho thuê nhà trọ.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của sự dịch chuyển bắt nguồn từ lợi thế hạ tầng tiếp giáp Quốc lộ 1A và nút giao Gò Mây, biến khu vực thành trung tâm trung chuyển hàng hóa và sản xuất tiểu thủ công nghiệp. So sánh với các nghiên cứu đô thị hóa vùng ven, việc một dự án kéo dài 17 năm (từ 1997 đến 2014) chưa hoàn thành như Khu dân cư Vĩnh Lộc cho thấy sự thiếu nhất quán giữa quy hoạch phân lô và khảo sát thực tế đời sống người dân ven trục đường Bình Thành.
Dữ liệu nghiên cứu được biểu thị trực quan qua hệ thống biểu đồ cột so sánh tương quan đất nông nghiệp - phi nông nghiệp qua các năm 2005, 2010, 2012; biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 107,48 ha dự án Vĩnh Lộc (đất ở 44,39 ha, giao thông 34,87 ha, công trình công cộng 16,03 ha, cây xanh 9,35 ha) và bảng kiểm kê chi tiết 22 loại đất năm 2010. Dù quá trình đô thị hóa giúp xóa nghèo theo chuẩn 12 triệu đồng/người/năm của thành phố, việc mất tư liệu sản xuất truyền thống khi chưa được trang bị kỹ năng tay nghề cao khiến một bộ phận lao động chuyển sang khu vực phi chính thức tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, giải quyết dứt điểm công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư. Ủy ban nhân dân quận Bình Tân và chủ đầu tư cần hoàn thiện phương án đền bù thỏa đáng, tập trung thu hồi dứt điểm 13,60 ha đất vướng mắc dạng "da beo" và bố trí bàn giao đủ 47 nền tái định cư còn lại cho người dân trước quý IV/2015.
Thứ hai, tháo gỡ khó khăn trong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận Bình Tân thống nhất quy chuẩn mẫu nhà xây dựng, phấn đấu nâng tỷ lệ cấp giấy chứng nhận tại Khu dân cư Vĩnh Lộc từ 22,66% lên trên 85% trong giai đoạn 2015 - 2017 cho 1.737 nền đất còn lại.
Thứ ba, đầu tư hoàn thiện mạng lưới hạ tầng giao thông và thoát nước. Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa B cần huy động nguồn lực xã hội hóa để chỉnh trang 302 tuyến hẻm còn lại (trên tổng số 569 tuyến), thông tuyến toàn diện đường Bình Thành và phối hợp triển khai dự án Kênh Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên nhằm chống ngập úng trước năm 2016.
Thứ tư, xây dựng đề án đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế bền vững. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Bình Tân liên kết với các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Vĩnh Lộc tổ chức đào tạo nghề kỹ thuật và dịch vụ, đặt chỉ tiêu tạo việc làm ổn định cho tối thiểu 70% lao động địa phương thuộc 40.871 người trong độ tuổi lao động trong lộ trình 2015 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cán bộ quản lý đất đai và quy hoạch vùng ven: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về quản lý biến động 732,73 ha đất tự nhiên, hỗ trợ hoạch định quy hoạch sử dụng đất đô thị hiệu quả.
- Chủ đầu tư các dự án khu dân cư và khu công nghiệp: Rút ra bài học thực tiễn trong công tác thỏa thuận bồi thường, giải phóng mặt bằng và xử lý các tồn đọng pháp lý đất đai quy mô trên 100 ha.
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đất đai, Địa lý: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp điều tra xã hội học 50 hộ dân và kỹ thuật phân tích số liệu kiểm kê đất đai.
- Nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Tham khảo mô hình chuyển đổi nghề nghiệp và hỗ trợ sinh kế cho hơn 40.000 lao động tại các khu vực chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao diện tích đất nông nghiệp của phường Bình Hưng Hòa B lại tăng trong giai đoạn 2005 - 2010?
Diện tích đất nông nghiệp tăng 10,59 ha (từ 268,98 ha lên 279,57 ha) do điều chỉnh quy hoạch Khu dân cư Vĩnh Lộc theo Quyết định 10287/QĐ-UBND năm 2009. Khu vực Bình Thành được chuyển từ quy hoạch xây mới sang chỉnh trang, trả lại hiện trạng đất nông nghiệp theo giấy tờ đã cấp cho người dân.
-
Quá trình đô thị hóa tác động thế nào đến cơ cấu kinh tế và thu nhập của người dân?
Kinh tế chuyển dịch mạnh sang thương mại, dịch vụ và công nghiệp với mức tăng trưởng bình quân 29,1%/năm. Năm 2013, phường cơ bản xóa bỏ hộ nghèo theo chuẩn thành phố (thu nhập dưới 12 triệu đồng/người/năm), lao động nông nghiệp giảm mạnh và chuyển sang làm việc tại khu công nghiệp hoặc kinh doanh dịch vụ.
-
Những tồn đọng lớn nhất tại dự án Khu dân cư Vĩnh Lộc sau nhiều năm triển khai là gì?
Dự án gặp khó khăn trong bồi thường 13,60 ha đất dạng "da beo" (chiếm 12,47%) và tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt rất thấp, chỉ 22,66% (509/2.246 nền), dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài và ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hạ tầng kết nối.
-
Cỡ mẫu và phương pháp khảo sát xã hội học trong luận văn được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu tiến hành điều tra 50 hộ dân bằng bảng hỏi theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, thu về 50 phiếu hợp lệ (100%). Phương pháp này bảo đảm tính khách quan, bao quát các nhóm hộ nông nghiệp mất đất, hộ kinh doanh và hộ tái định cư.
-
Tình trạng hạ tầng đô thị của phường có đáp ứng kịp tốc độ tăng dân số không?
Hạ tầng đã có nhiều cải thiện khi chỉnh trang được 267/569 tuyến hẻm. Tuy nhiên, trước áp lực dân số 56.766 người với mật độ 7.744 người/km2, hệ thống thoát nước vẫn chưa đồng bộ, nhiều tuyến đường dự phóng chưa triển khai gây ngập úng và ùn tắc cục bộ.
Kết luận
- Đô thị hóa tại phường Bình Hưng Hòa B (732,73 ha) diễn ra mạnh mẽ, đưa tỷ lệ đất phi nông nghiệp lên 63,44% (464,85 ha) vào năm 2012.
- Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 29,1%/năm, xóa nghèo chuẩn đô thị và chuyển đổi 72% dân số trong độ tuổi lao động sang khu vực phi nông nghiệp.
- Những nút thắt chính gồm 12,47% diện tích dự án Vĩnh Lộc chưa giải phóng mặt bằng, 77,34% nền chưa cấp sổ đỏ và 302 tuyến hẻm chưa được nâng cấp.
- Đóng góp khoa học then chốt là hệ thống hóa mối quan hệ giữa quy hoạch đất đai và mức độ ổn định sinh kế của 56.766 cư dân vùng ven đô.
- Giai đoạn 2015 - 2020 cần tập trung dứt điểm bồi thường dự án, đẩy nhanh cấp sổ đỏ, nâng cấp hạ tầng thoát nước và đào tạo nghề cho 40.871 lao động.
Các cơ quan quản lý nhà nước, nhà nghiên cứu và học viên có thể ứng dụng các kết quả phân tích trong công trình này để hoàn thiện chính sách bồi thường, quản lý đất đai và bảo đảm an sinh xã hội bền vững trong tiến trình đô thị hóa.