Mở đầu - Chương 2: Tổng quan - Chương 3: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả và thảo luận - Chương 5: Kết luận và kiến nghị Ngoài ra còn có các phần Mục Lục, Danh mục hình, Danh mục bảng, Phụ lục và Tài liệu tham khảo được trình bày tất cả trong báo cáo đề tài này. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về nguyên liệu cây đinh lăng lá nhỏ 2. Giới thiệu chung về đinh lăng Đinh lăng là loài cây quen thuộc với gia đình nhiều người Việt Nam từ xưa đến nay.
Đinh lăng được trồng từ lâu và phổ biến nhiều ở các vườn hộ gia đình để làm cảnh, làm thuốc hoặc gia vị. Trong cuộc sống thường ngày lá cây được sử dụng như rau sống hoặc có thể ăn kèm. Theo y học cổ truyền, rễ cây có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết; lá đinh lăng có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Toàn cây đinh lăng bao gồm rễ, thân, lá đều có thể sử dụng làm thuốc với nhiều công dụng và bài thuốc khác nhau.
Cây đinh lăng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu bài bản về tính ưu việt trên nhiều góc độ khác nhau trong nhiều năm. Cây đinh lăng thuộc họ Nhân sâm (họ Ngũ gia bì), có phân loại khoa học như sau: (Trương Thị Đẹp, 2011) - Giới thực vật: Plante - Phân giới thực vật bậc cao: Cormobionta - Ngành ngọc lan: Magnoliophyta - Lớp ngọc lan: Magnoliopsida - Phân lớp Thù du: Cornidae - Bộ ngũ gia bì: Araliales - Họ ngũ gia bì: Araliaceae - Chi: Polyscias - Loài: Polyscias fruticosa (L.) Harms Tên Việt Nam: Đinh lăng hay còn gọi là cây đinh lăng lá nhỏ, cây gỏi cá, nam dương sâm. Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L. Thuộc họ ngũ gia bì Araliaceae.
4 Tên đồng nghĩa: Panax fruticosum L, Nothopanax fruticosum (L. Đặc điểm thực vật đinh lăng Mô tả Thân: Đinh lăng là cây thân nhỏ dạng bụi, thân gỗ, nhẵn, không có gai, thường cao 0.5m và có thể cao đến 7m. Vỏ cây có màu nâu xám, sần sùi, ít phân nhánh, không có gai, thường có những vết sẹo lồi to do lá rụng. Lá: Lá đinh lăng là lá kép lông chim, thường mọc so le nhau, và được chia làm 2 dạng: lá kép và lá chét, dài từ 20 - 40cm.
Thường thì mặt trên của lá có màu xanh đậm, mặt dưới nhạt và bóng hơn. Lá kép có dạng lá kép lông chim và được xẻ 2 - 3 lần, phiến của lá kép có thuỳ sâu, mép răng cưa không đều. Lá chét có cuống gầu dài 3 - 10mm, mép lá chét có răng cưa ngọn. Cuống lá dài, có hình tròn và màu xanh đậm, đôi khi là đỏ tía.
Đầu cuống sẽ phình to ôm lấy thân cây để tạo thành bẹ lá, khi bẹ lá rụng đi tạo những vết sẹo to trên thân cây. Lá đinh lăng có mùi thơm sau khi vò nát. Hoa: Hoa nở từ tháng 4 đến tháng 7, là một loài hoa lưỡng tính. Mọc thành cụm và thường tụm lại ở phía đầu của cành ngọn.
Hoa đinh lăng màu lục nhạt hoặc trắng xám, hoa có 5 cánh hình trứng, kích thước hoa khá nhỏ. Mỗi cụm hoa gồm nhiều túp, mỗi túp mang nhiều hoa nhỏ, năm cánh màu trắng xám, dài 2mm, các nhuỵ hoa ngắn và mảnh. Hoa phân bố nhiều ở ngọn cây và các cành tán. Bao hoa: lá đài thu hẹp chỉ còn 5 răng, 5 cánh hoa rời và rụng sớm; thường có màu xanh và hình bầu dục.
Bộ nhị có 5 nhị rời và đều, xen kẽ cánh hoa. Bộ nhuỵ: 2-3 lá noãn dính nhau thành bầu dưới có 2 đến 3 ô, mỗi ô chứa một noãn; đôi khi có 10 lá noãn, ít khi giảm còn 3 hay 1 lá noãn, noãn thường có màu xanh đậm, dài khoảng 1cm; vòi rời. Quả: Quả đinh lăng thuộc loại quả hạch, có màu trắng bạc, dẹt và nhỏ, dày khoảng 1mm, dài 3-4mm. Quả dẹt hai bên hoặc hình tam giác.
Phía trên đỉnh quả thường còn lại phần nhuỵ mọc dài ra, đài hoa vẫn còn. Quả đinh lăng có màu xanh đậm, vỏ quả có một số nốt tròn màu xanh nhạt. Hạt có nội nhũ. Cây đinh lăng Hình 2.
Rễ cây đinh lăng Hình 2. Lá cây đinh lăng Hình 2. Hoa và quả cây đinh lăng 2. Phân loại Theo điều tra của Trung tâm Sâm Việt Nam ở các tỉnh phía Nam, đinh lăng có 6 loài: Polyscias fruticosa (L) Harms (đinh lăng, đinh lăng hương, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá): là loại phổ biến nhất ở Việt Nam, cũng là loại cây sẽ được tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Polyscias balfouriana Bailey (đinh lăng lá tròn, đinh lăng lá xà cừ): lá to, dạng vỏ hến, lá xen kẽ giữa 2 màu trắng và xanh rất đặc sắc. Polyscias filicifolia (Merr.et Fourn) Bailey (đinh lăng đuôi phượng, đinh lăng lá rách): Đặc điểm lá to và dày hơn nhiều so với đinh lăng lá nhỏ. Polyscias guilfeylei var. laciniata Bailey (đinh lăng lá xoan xẻ, đinh lăng xà cừ nhỏ): lá hình cánh hoa.
6 Polyscias guilfeylei (Cogh et March) Bailey (đinh lăng lá trổ): Là cây nhỏ, viền lá màu bạc rất đẹp, được trồng làm cây cảnh cây bonsai.Burn) Fosberg (đinh lăng đĩa): Lá to tròn, dày, mép lá có các vết giống hình răng cưa. Phân bố và sinh trưởng Phân bố Cây đinh lăng được bắt nguồn từ Polynesia (là một tiểu vùng của Châu đại Dương). Sau đó, được trồng rộng rãi ở một số nước Đông Nam Á và các đảo nhiệt đới của khu vực Thái Bình Dương. Cây được trồng chủ yếu để làm cảnh ở các đình chùa, các vườn gia đình.
Đinh lăng là một cây được trồng phổ biến làm cảnh ở khắp nước ta, mọc cả ở Lào và miền nam Trung Quốc. Trước đây không thấy dùng làm thuốc, gần đây do sự nghiên cứu tác dụng bổ mới bắt đầu được dùng. Thường đào rễ, rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô. Điều kiện sinh trưởng Đinh lăng có thể được tìm thấy phát triển trong các bụi rậm đô thị, vùng đất thấp, ruộng bỏ hoang, ven đường và các khu vực gần làng mạc.
Trên các hòn đảo ở Thái Bình Dương, nó phát triển ở độ cao gần đến khoảng 450 m tính từ mực nước biển. Nó thường được trồng trong làng và vườn (Smith, 1985; McCormack, 2007). Đinh lăng thích phát triển trong môi trường sống ưa ẩm, vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó phát triển nhất ở những nơi thoáng đãng với đầy đủ ánh sáng mặt trời, nhưng cũng chịu được bóng râm một phần.
Đinh lăng trồng được trên nhiều loại đất, phổ biến nhất là đất cát hoặc nhiều mùn. Đinh lăng có thể trồng bằng hạt hoặc việc giâm cành; hạt giống tốt nhất nên gieo khi còn tươi. Giâm cành bằng cách cắt bỏ phần ngọn của những cây đã già cỗi sẽ kích thích sự hình thành cây mới. Dùng chồi dài 10cm làm cành giâm.
Tránh phun sương nhiều vì rễ phát triển chậm khi đất bị úng. Nó được trồng rộng rãi làm cây cảnh và cây hàng rào và cho các mục đích y học và ẩm thực. Trồng bằng cành sau 2 – 3 năm cây có hoa quả. Đinh lăng có khả năng tái sinh vô tính khoẻ, có thể dùng một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất.
Cây phát triển mạnh trong các môi trường nhiệt đới ẩm trung bình, với nhiệt độ thay đổi từ 16 – 29°C (60 – 85°F). Thành phần hóa học Trong thành phần của rễ, thân và lá cây đinh lăng có các glycosid, alkaloid, tanin, saponin, các vitamin tan trong nước (B1, B2, B6, C) và khoảng 20 loại acid amin như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin,… (Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự, 1990). Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alcoloid, các vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 acid amin, glycocid, alcaloid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21. Trong đó lá còn chứa triterpene saponin (1.65%), là một genin đã xác định được là acid oleanolic (Bích và cộng sự, 2004).
Ngoài ra, trong một cuộc khảo sát hàm lượng saponin toàn phần khác, với kết quả hàm lượng saponin tổng trong rễ là 0.49%, vỏ rễ là 1. Theo nghiên cứu của Võ Duy Huấn, các hợp chất saponin có trong đinh lăng như: ladyginosid A, hợp chất số 6, polysciosid A và D; các hợp chất này đều tồn tại trong lá và rễ. Ngoài ra, các saponin chỉ hiện diện trong lá như zingibrosid-R1, polysciosid G và H hoặc ở trong rễ như polysciosid B, C, F (Huan và cộng sự, 1998; Huong và cộng sự, 1997). Từ lá đinh lăng đã nghiên cứu phân lập được 5 hợp chất polyacetylen là panaxynol, panoxydol, heptadeca – 1,8 (E) – dien – 4,6 diyn – 3,10 diol, heptateca – 1,8 (E) – dien – 4,6 diyn – 3 ol – 10 on và heptadeca – 1,8 (Z) – dien – 4,6 – diyn – 3 ol – 10 on.
Trong đó, hai hợp chất sau chỉ tìm thấy được trong lá đinh lăng mà không có trong các cây khác cùng họ với cây đinh đinh lăng. Trong lá đinh lăng cũng tìm thấy 5 hợp chất polyacetylen, nhưng chỉ có hai chất chủ yếu được xác định cấu trúc là panaxnydol và heptadeca – 1,8 (E) – dien – 4,6 diyn – 3,10 – diol (Trần Công Luận, 1996; Trần Công luận và cộng sự, 2001). Trong rễ đinh lăng cũng tìm thấy 5 hợp chất polyacetylen, nhưng chỉ có panoxydol, panaxynol và heptadeca – 1,8 (E) – dien – 4,6 diyn – 3,10 diol là trùng hợp với các chất trong lá. Ba hợp chất trong rễ và lá đinh lăng này đều có tác dụng chống ung thư và giúp kháng khuẩn mạnh (Trần Công Luận, 1996; Trần Công luận và cộng sự, 2001).
Phân tích hoá thực vật rễ và lá đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập ở các tỉnh phía nam như Tuy Hoà, Gia Lai – Kon Tum (1984) (Nguyễn Thượng Dong, 2007) 8 Hợp chất chính (% / dược liệu khô) Lá Rễ Glycosid 0.27 Hợp chất khử 21.17 Alcaloid toàn phần 0. Phân tích hoá thực vật rễ và lá đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập tại trại Dược liệu Trung tâm Sâm Việt Nam – Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh (1988) (Nguyễn Thượng Dong, 2007) Hợp chất chính (% / dược liệu khô) Lá Rễ Saponin toàn phần 1.647 Sapogenin - Acid oleanolic 0.302 - % / dược liệu khô 2. Dược tính và ứng dụng của lá đinh lăng trong y học Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính bình.
Lá có vị nhạt hơi đắng. Lá cây đinh lăng thường được nghiền nhỏ dùng để đắp vết thương có tác dụng hỗ trợ chống sưng, viêm, kháng khuẩn, cảm sốt, dị ứng. Lá ăn sống có tác dụng tốt với hệ tiêu hóa. Ở Ấn Độ, đinh lăng được dùng làm thuốc trị sốt.