Đặt vấn đề Trong những năm gần đây do sự gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng theo; đồng thời cùng với sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây áp lực không nhỏ cho nền nông nghiệp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, trong đó có các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. Trước tình hình đó, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là việc làm cần thiết và nuôi thủy sản nước ngọt thâm canh đang là hướng đi được nhiều người dân ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ lựa chọn và thực hiện. Hiện nay, có nhiều loài cá nước ngọt có triển vọng đang được nghiên cứu và nuôi thương phẩm ở khu vực miền Trung, đáng chú ý là cá lăng, cá lóc và cá rô đầu vuông. Cá rô đầu vuông là loài cá có tốc độ tăng trưởng cao gấp 2-3 lần so với cá rô đồng, thịt ngon, rất được người tiêu dùng ưa chuộng và có giá bán khá cao trên thị trường.
Từ đó cho thấy cá rô đầu vuông là loài có tiềm năng lớn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, để thực hiện được quy trình nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông theo hướng năng suất, chất lượng cao và hướng tới phát triển bền vững thì việc nghiên cứu để tìm ra thức ăn phù hợp nhất cho cá là thực sự cần thiết. Hiện nay, các sản phẩm dinh dưỡng để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, thủy sản như dịch trùn quế đang được người tiêu dùng ưa chuộng bởi những tính năng hữu ích của nó. Tuy vậy, hiệu quả thật sự của dịch trùn quế đối với cá rô đầu vuông vẫn chưa được nghiên cứu.
Ngoài ra, việc cho cá ăn với khối lượng thức ăn nhiều hay tần số cho ăn quá dày trong ngày không đồng nghĩa với việc cá sẽ tăng trọng nhanh, ngược lại khi cá ăn một lượng lớn thức ăn cá sẽ tiêu hóa chậm, thức ăn không sử dụng triệt để và làm giảm sự hấp thụ dinh dưỡng [3]. Bên cạnh đó, thức ăn không được cá sử dụng hết sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và kéo theo nhiều 2 bệnh nguy hiểm xảy ra, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Vì lý do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã thử nghiệm phương pháp cho ăn gián đoạn trên một số loài cá và đã đem lại những lợi ích nhất định [4] [19] [43] [50]. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu tương tự nào được thực hiện trên cá rô đầu vuông, vì vậy hiệu quả thật sự của phương pháp cho ăn gián đoạn đối với loài cá này vẫn chưa được biết.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần tìm ra những giải pháp tối ưu trong nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông, đề tài “Ảnh hưởng của dịch trùn quế và phương pháp cho ăn đến sinh trưởng và sống sót của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus)” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định hiệu quả của các phương pháp cho ăn trong nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông. - Xác định hiệu quả của dịch trùn quế trong nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu quả nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông.
- Ý nghĩa thực tiễn: Tìm ra phương pháp cho ăn hiệu quả cũng như xác định được hiệu quả thực tế của dịch trùn quế khi bổ sung vào khẩu phần ăn trong nuôi thương phẩm cá rô đầu vuông. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học và sinh thái của cá rô đầu vuông 1.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại Năm 2008, trong ao nuôi cá rô đồng nhà ông Nguyễn Văn Khải (ngụ ấp 5, xã Vĩnh Thạnh Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang) xuất hiện 70 cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn các cá thể khác trong ao, khi trưởng thành phần đầu của các cá thể này có dạng hình khá vuông nên được gọi là cá rô đầu vuông[58]. Theo Dương Thúy Yên (2014), mức độ tương đồng về trình tự ba gen mã vạch trong ty thể (Gene Cytochrome C oxidase subunit 1, COI, và Cytochrome b, Cyt b) và trong nhân (Gene Rhodopsin, Rho) giữa cá rô đầu vuông và cá rô tự nhiên thu được ở các tỉnh khác nhau rất cao, từ 99 – 100% và giống với trình tự gen COI, Cyt b của cá rô ở một số nước trên hệ thống Genbank và BOLD trên 99%. Như vậy, kết quả thống nhất từ ba gen mã vạch khẳng định cá rô đầu vuông cùng loài với cá rô đồng, Anabas testudineus[26].
Cá rô đầu vuông có hệ thống phân loại như sau:[25] Ngành: Chordata Ngành phụ: Vertebrata Lớp: Osteichthyes Bộ: Perciformes Bộ phụ: Anabantoidei Họ: Anabantidae Giống: Anabas Loài: Anabas testudineus Bloch, 1792 Tên địa phương: Cá rô đầu vuông Tên tiếng Anh: Square-head climbing perch 4 1.2 Đặc điểm môi trường sống Theo kết quả nghiên cứu của Dương Thúy Yên (2014) kết luận rằng, cá rô đầu vuông cùng loài với cá rô đồng [26]. Do đó, môi trường sống của chúng cũng tương tự với cá rô đồng; cụ thể ở Việt Nam, cá phân bố ở khắp nơi và khắp các địa hình thủy vực nước ngọt; đặc biệt ở Đồng bằng Sông Cửu Long, cá phân bố nhiều ở những khu vực trũng, ngập nước quanh năm: nông trường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang), vùng Tứ Giác Long Xuyên và nhiều vùng khác [8]. Trong tự nhiên, cá sống ở thủy vực nước ngọt, chủ yếu ở kênh, rạch, ao, hồ, ruộng lúa, đầm lầy và cửa sông những nơi ngập lụt. Trong điều kiện nhân tạo, cá sống được trong bể xi măng, bể composite hay trong ao, mương có diện tích nhỏ, ngoài ra nếu cá ở nơi mát mẻ và bề mặt cơ thể được giữ ấm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi cá với mật độ cao trong ao.
Khả năng thích nghi với môi trường sống của cá rất tốt, đặc biệt là nhờ cơ quan hô hấp phụ nên có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường bất lợi như nước dơ bẩn giàu vật chất hữu cơ, thiếu oxi, pH thấp hay vùng nước nhiễm phèn,. Một số đặc điểm sinh học cá rô đầu vuông ♦ Hình thái, cấu tạo Theo Trần Kiều Lan Phương (2011), cá rô đầu vuông có thân dài, dẹp bên, cứng chắc và thân hình hơi cong, còn cá rô đồng thường thì thân hình bầu dục. Cá rô đầu vuông có phần đầu to và vuông, mõm ngắn và nhọn còn cá rô đồng thường thì mõm ngắn và hơi bầu. Lúc nhỏ hình dáng cá rô đầu vuông giống như cá rô đồng nhưng khi cá có kích thước lớn, đầu cá có hình hơi vuông, môi trề, bụng sệ, đuôi dài, vây dưới dày.
Thân cá dài và hơi cong, có hai chấm đen ở phần đuôi và mang cá, đuôi xòe và có màu hơi đỏ[14]. 5 Theo Trương Ngọc Trinh và cộng sự (2013), cá rô đầu vuông có thân dài, vảy cứng chắc và thân mình hơi cong, cá có phần đầu to và hơi vuông, miệng ngắn trong khi các dòng cá rô đồng thì thân bầu dục dài, đầu rất rộng, thân hình càng ra sau càng dẹt hai bên, vảy tương đối mềm mại hơn so với cá rô đầu vuông [22]. Đặc biệt cá rô đầu vuông khác với cá rô đồng tự nhiên là cá đực và cái không chênh lệch nhiều về kích cỡ, trọng lượng, hình thể tăng trưởng trong cùng một ao[20]. Theo Dương Thúy Yên và Trương Ngọc Trinh (2013), cá rô đầu vuông khác biệt với cá rô đồng rõ ràng nhất ở các tỉ lệ về hình dạng đầu, kích cỡ miệng, khoảng cách trước vi lưng và vi ngực[28].
♦ Đặc điểm dinh dưỡng Cá rô đầu vuông là loài cá dữ, ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn của cá bao gồm cá con, động vật không xương sống, sinh vật phù du, hạt cỏ, thóc, các phụ phẩm nông nghiệp như cám, gạo, các chế phẩm của nhà máy thủy sản. Trong nuôi thâm canh, cá sử dụng thức ăn viên với hàm lượng đạm thích hợp (30 – 40%) cho nhu cầu từng giai đoạn vẫn cho tốc độ tăng trưởng tốt[52]. Cá rô đầu vuông có chiều dài ruột dài hơn cá rô đồng tự nhiên.
Với chiều dài ruột dài, cá rô đầu vuông có khả năng sử dụng hiệu quả hơn nguồn dinh dưỡng từ thức ăn có nguồn gốc khác nhau (thực và động vật), tăng khả năng dự trữ thức ăn, tăng hiệu quả tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, từ đó có thể góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng[28]. ♦ Đặc điểm sinh trưởng Cá rô đầu vuông có tốc độ sinh trưởng nhanh. So với cá rô đồng, cá rô đầu vuông có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn từ 3 đến 4 lần. Con đực và con cái có tốc độ tăng trưởng tương đương nhau (ở cá rô đồng con cái có tốc độ lớn gấp 2 lần con đực).
Ở Miền Nam; cá nuôi 4 tháng có thể đạt 150 – 200g, 7 tháng có thể đạt 500 – 800g/con. Nếu thời gian nuôi càng kéo dài thì kích thước và 6 trọng lượng cá càng lớn chứ không giảm như cá rô đồng, chất lượng thịt cá cũng càng tăng theo trọng lượng cá. Cá có sức sống khỏe, có thể sống và phát triển được ở điều kiện nuôi có mực nước thấp hoặc nước bị nhiễm bẩn trong thời gian khá dài [60]. Cá rô đầu vuông có ưu điểm lớn nhanh, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, nếu sử dụng thức ăn công nghiệp (cũng với hàm lượng đạm 28 – 30%) thì chỉ tốn 1,3 – 1,5 kg thức ăn cho 1 kg cá, trong khi đó ở cá rô đồng hệ số này là 1,6 – 1,8[54].
Sinh trưởng của cá còn phụ thuộc vào kích cỡ cá ban đầu, cá có kích cỡ lớn sinh trưởng nhanh hơn so với cá ban đầu cỡ nhỏ [29]. ♦ Đặc điểm sinh sản Do xuất phát cùng loài với cá rô đồng nên cá rô đầu vuông có những dấu hiệu thành thục tương tự cá rô đồng, cụ thể cá từ lúc nở đến lúc phát dục khoảng 7,5 – 8 tháng tuổi.