Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, diện tích đất nông nghiệp tại các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang các hoạt động phi nông nghiệp như may mặc, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và làm công ăn lương tại doanh nghiệp trở thành hướng đi chủ đạo nhằm giải quyết tình trạng lao động dư thừa, đa dạng hóa nguồn sinh kế và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.

Tuy nhiên, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã gây ra cú sốc lớn đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Chuỗi cung ứng sản xuất và lưu thông hàng hóa bị đứt gãy, tác động trực tiếp và nặng nề đến khu vực công nghiệp và dịch vụ với tỷ lệ ảnh hưởng lần lượt là 86,1% và 85,9% (so với 78,7% ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản). Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đại dịch đã tác động tiêu cực đến hàng triệu lao động trên cả nước thông qua các hình thức mất việc làm, tạm ngừng sản xuất kinh doanh, cắt giảm giờ làm, nghỉ luân phiên và sụt giảm thu nhập nghiêm trọng.

Địa bàn xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là xã miền núi cửa ngõ phía Nam của tỉnh, có vị trí tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, sở hữu các trục giao thông huyết mạch (Quốc lộ 2C, Tỉnh lộ ĐT 186), chợ trung tâm Bâm có lịch sử hơn 60 năm, cụm công nghiệp Sơn Nam cùng 39 doanh nghiệp lớn và mạng lưới cơ sở kinh doanh dịch vụ vừa và nhỏ. Trong giai đoạn 2020–2021, các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội và đứt gãy đơn hàng xuất khẩu đã khiến hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn bị đình trệ, đẩy người lao động phi nông nghiệp tại địa phương vào tình trạng bấp bênh.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu về ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc làm phi nông nghiệp của người dân nông thôn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu và việc làm của người dân nông thôn làm phi nông nghiệp bị ảnh hưởng từ dịch Covid-19 tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
    2. Tìm hiểu ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến điều kiện việc làm phi nông nghiệp của người dân nông thôn tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
    3. Tìm hiểu ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thu nhập và chi tiêu từ việc làm phi nông nghiệp của người dân nông thôn tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc làm phi nông nghiệp của người dân nông thôn.
  • Khách thể nghiên cứu: Người dân nông thôn tham gia các hoạt động việc làm phi nông nghiệp.
  • Phạm vi nội dung: Phân tích thực trạng tác động của dịch Covid-19 đến việc làm, chất lượng điều kiện làm việc, biến động thu nhập, chi tiêu và các khó khăn, chiến lược thích ứng của người lao động phi nông nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (diện tích 2.025,60 ha; quy mô 2.542 hộ thuộc 7 dân tộc sinh sống tại 23 thôn).
  • Phạm vi thời gian: Thông tin thứ cấp thu thập từ năm 2012 đến 2022; thông tin sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa từ ngày 26/04/2022 đến ngày 30/04/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Khóa luận vận dụng hai khung lý thuyết xã hội học nền tảng để tiếp cận và giải thích dữ liệu:

  1. Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber: Hành động xã hội là hành vi được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan, có tính toán đến hành vi của người khác và hướng tới người khác. Đề tài sử dụng lý thuyết này để phân tích động cơ, mục đích, việc lựa chọn phương tiện và các quyết định chuyển đổi công việc, thay đổi phương thức bán hàng hoặc cắt giảm chi tiêu của người dân nhằm thích ứng với các biến động do dịch bệnh và chính sách hỗ trợ gây ra.
  2. Lý thuyết cấu trúc chức năng: Nhấn mạnh tính liên kết hữu cơ, trật tự và khả năng duy trì cân bằng của các bộ phận trong hệ thống xã hội. Khi môi trường có biến động ngoại cảnh (dịch bệnh Covid-19), sự đứt gãy ở một bộ phận cấu thành (thị trường cung ứng, chuỗi xuất khẩu) sẽ kéo theo sự biến đổi chức năng ở các bộ phận khác (cắt giảm việc làm, điều chỉnh tiền lương, thay đổi sinh kế) nhằm tái lập trạng thái thích nghi và cân bằng mới.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên các văn bản và công trình nghiên cứu:

  • Việc làm: Theo Bộ luật Lao động năm 2019, là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm.
  • Việc làm phi nông nghiệp: Hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ diễn ra tại khu vực nông thôn, sử dụng nguồn lực địa phương nhưng không phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động canh tác nông nghiệp thuần túy (Trần Quang Tuyến, 2014).
  • Nông thôn và người dân nông thôn: Địa bàn sinh sống ngoài đô thị do chính quyền cấp xã quản lý, nơi cộng đồng gắn kết chặt chẽ về mặt dòng họ và làng xóm (Hoàng Việt & Vũ Đình Thắng, 2013; Mai Thanh Cúc & Quyền Đình Hà, 2005).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp số liệu từ các văn kiện, báo cáo của Tổng cục Thống kê, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), UNDP, UN Women, niên giám thống kê và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của UBND xã Sơn Nam giai đoạn từ năm 2012 đến 2022.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
    • Điều tra bảng hỏi định lượng: Chọn mẫu ngẫu nhiên $N = 35$ lao động làm việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp tại xã Sơn Nam.
    • Phỏng vấn sâu định tính: Thực hiện 11 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 01 cán bộ quản lý cấp xã (42 tuổi) nhằm nắm bắt bức tranh quản lý và chính sách an sinh tại địa phương, cùng 10 lao động phi nông nghiệp thuộc các nhóm ngành khác nhau (công nhân may, da giày, thợ xây, tiểu thương, dịch vụ làm đẹp) để làm rõ trải nghiệm thực tế trước và trong thời gian giãn cách xã hội.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để nhập liệu, làm sạch và xử lý các biến số định lượng dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm; kết hợp phân tích nội dung biên bản phỏng vấn sâu thực địa để minh chứng cho các lập luận định tính.

Nội dung chính theo từng chương

PHẦN 1: GIỚI THIỆU

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19; xác định hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng, khách thể và giới hạn phạm vi nghiên cứu tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

Hệ thống hóa cơ sở lý luận với Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber và Lý thuyết cấu trúc chức năng; tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về việc làm phi nông nghiệp nông thôn, tác động của dịch bệnh đến chuỗi cung ứng, suy giảm việc làm và biến động thu nhập của người lao động; chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ phục vụ phân tích.

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô tả đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của điểm nghiên cứu xã Sơn Nam; trình bày chi tiết quy trình thiết kế công cụ thu thập dữ liệu (bảng hỏi $n=35$, phỏng vấn sâu $n=11$); phương pháp xử lý dữ liệu SPSS và thiết lập khung phân tích so sánh thực trạng việc làm, thu nhập và điều kiện làm việc giữa giai đoạn trước dịch và trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội.

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phân tích thực trạng qua các phát hiện khảo sát thực tế:

  • Đặc điểm nhân khẩu và loại hình việc làm: Nhóm tuổi 35 đến dưới 55 tuổi chiếm đa số (45,7%), tiếp đến là nhóm 15 đến dưới 35 tuổi (37,1%). Trình độ học vấn phân hóa với 48,6% có trình độ tiểu học và THCS; trình độ cao đẳng, đại học chiếm 28,5%. Về tình trạng hôn nhân, 80,0% đã lập gia đình. Cơ cấu việc làm tập trung vào công nhân xí nghiệp (37,1%), buôn bán - dịch vụ (31,4%), lao động tự do (20,0%) và cán bộ, công chức, viên chức (11,4%). Thâm niên làm việc từ 1 đến dưới 3 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (42,9%). Động lực chọn nghề phi nông nghiệp chủ yếu là nhằm tăng thu nhập cho gia đình (51,4%).
  • Biến động điều kiện làm việc: Trong giai đoạn giãn cách, tính chất công việc ổn định giảm mạnh từ 82,9% xuống 31,4%; tỷ lệ công việc không ổn định tăng lên 68,6%. Thời gian làm việc trên 8 giờ/ngày giảm 28,6%, trong khi hình thức làm việc không cố định thời gian tăng lên 54,3%. Tỷ lệ lao động phải làm việc ngoài trời tăng từ 22,9% lên 37,1%.
  • Chế độ phúc lợi và an sinh: Tỷ lệ người lao động có hợp đồng lao động giảm từ 54,3% xuống 28,6%. Các phúc lợi như hỗ trợ ăn trưa, thưởng lễ tết giảm mạnh còn 2,9%; hoạt động tham quan du lịch bị cắt giảm hoàn toàn (0,0%). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp giảm từ 28,6% xuống 20,0%, trong khi tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện tăng từ 48,6% lên 62,9% do tâm lý phòng ngừa rủi ro sức khỏe. Mức độ rất hài lòng với công việc giảm từ 40,0% xuống 14,3%, xuất hiện tỷ lệ không hài lòng (25,7%) và rất không hài lòng (8,6%).
  • Thu nhập, chi tiêu và chính sách hỗ trợ: Thu nhập từ mức trên 6 triệu đồng/tháng chiếm ưu thế tuyệt đối trước dịch bị suy giảm nặng nề trong giãn cách, buộc người dân phải thu hẹp chi tiêu sinh hoạt không thiết yếu và tìm kiếm các công việc phụ trợ.

PHẦN 5: KẾT LUẬN

Tổng hợp các kết luận rút ra từ thực địa về mức độ ảnh hưởng của đại dịch đối với các nhóm lao động phi nông nghiệp; đề xuất định hướng hỗ trợ khôi phục việc làm và tăng cường mạng lưới an sinh xã hội cho lao động nông thôn.


Kết quả và đóng góp

Dữ liệu thực nghiệm chính

Khóa luận đã định lượng hóa các biến động về việc làm và điều kiện làm việc của người dân nông thôn tại xã Sơn Nam qua việc so sánh hai mốc thời gian: trước khi bùng phát dịch và trong thời gian giãn cách xã hội.

Tiêu chí khảo sát ($N = 35$) Trước dịch Covid-19 Trong giãn cách Covid-19
Tính chất công việc
- Ổn định, thường xuyên 82,9% (29 người) 31,4% (11 người)
- Không ổn định, không thường xuyên 17,1% (6 người) 68,6% (24 người)
Thời gian làm việc
- Trên 8 giờ/ngày 37,1% (13 người) Giảm 28,6%
- Thời gian không cố định 31,4% (11 người) 54,3% (19 người)
Môi trường làm việc
- Làm việc ngoài trời 22,9% (8 người) 37,1% (13 người)
- Làm việc trong nhà/nhà xưởng 77,1% (27 người) 62,9% (22 người)
Quan hệ lao động & An sinh
- Có ký kết hợp đồng lao động 54,3% (19 người) 28,6% (10 người)
- Tham gia Bảo hiểm xã hội / Thất nghiệp 28,6% (10 người) 20,0% (7 người)
- Tham gia Bảo hiểm y tế 48,6% (17 người) 62,9% (22 người)
Mức độ hài lòng với công việc
- Rất hài lòng 40,0% (14 người) 14,3% (5 người)
- Hài lòng 54,3% (19 người) Giảm sút
- Không hài lòng 5,7% (2 người) 25,7% (9 người)
- Rất không hài lòng 0,0% (0 người) 8,6% (3 người)

Về phân hóa theo nhóm nghề:

  • Nhóm công nhân xí nghiệp (37,1%): Bị ảnh hưởng bởi sự đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và việc sụt giảm, hoãn hủy đơn hàng xuất khẩu, dẫn đến việc bị cắt giảm giờ làm, nghỉ luân phiên hoặc tạm hoãn hợp đồng.
  • Nhóm dịch vụ - làm đẹp, ăn uống: Chịu tổn thương trực tiếp do lệnh đóng cửa, dừng đón khách. Một số ít chuyển đổi sang kinh doanh nhu yếu phẩm trực tuyến (Facebook, Zalo) thích ứng tốt hơn.
  • Nhóm lao động tự do (thợ xây, bốc vác, xe ôm - 20,0%): Là nhóm dễ bị tổn thương nhất do đặc thù công việc phụ thuộc vào sự lưu thông trực tiếp và trình độ học vấn thấp, khó chuyển đổi sang nghề nghiệp khác trong thời gian giãn cách.

Giải pháp và đóng góp của đề tài

  • Giải pháp đề xuất: Đẩy mạnh các chính sách an sinh xã hội trực tiếp, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận các gói hỗ trợ của Nhà nước cho lao động phi chính thức và lao động tự do; hỗ trợ kết nối thị trường tiêu thụ và đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp linh hoạt tại địa phương.
  • Đóng góp của nghiên cứu: Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về tác động đa chiều của Covid-19 đối với từng phân nhóm việc làm phi nông nghiệp tại một xã miền núi đặc thù; chỉ ra cơ chế thích ứng hành vi của cư dân nông thôn (tự mua bảo hiểm y tế để phòng ngừa rủi ro, chuyển đổi mô hình bán hàng tại gia/online) dưới góc nhìn xã hội học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Quy mô mẫu khảo sát định lượng còn nhỏ ($N = 35$ mẫu), do hạn chế về thời gian và điều kiện tiếp cận thực địa trong bối cảnh dịch bệnh, mức độ đại diện cho toàn bộ các nhóm lao động trên địa bàn huyện chưa cao.
    • Phạm vi không gian giới hạn tại một xã (Sơn Nam), chưa có sự so sánh đối chứng liên xã hoặc giữa các vùng sinh thái kinh tế khác nhau của tỉnh Tuyên Quang.
    • Thời gian thu thập thông tin sơ cấp ngắn hạn (5 ngày, từ 26/04/2022 đến 30/04/2022).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát, kéo dài chuỗi thời gian theo dõi giai đoạn phục hồi hậu Covid-19; tiến hành nghiên cứu so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp trong cụm công nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể tại nông thôn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Xã hội học, Kinh tế phát triển, Phát triển nông thôn và Quản lý công: Tham khảo khung phân tích kết hợp giữa Lý thuyết hành động xã hội và Lý thuyết cấu trúc chức năng trong việc giải thích biến động việc làm nông thôn.
  • Cán bộ quản lý lao động và chính quyền địa phương: Cung cấp cứ liệu thực tế về mức độ dễ tổn thương của các nhóm lao động phi chính thức và lao động xí nghiệp tại cơ sở, hỗ trợ công tác xây dựng phương án trợ cấp an sinh và kế hoạch phục hồi sinh kế hậu dịch bệnh.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu so sánh chi tiết trước và trong thời gian giãn cách (từ Bảng 4.7 đến Bảng 4.14) và các trích dẫn phỏng vấn sâu thực địa phản ánh biến động sinh kế của người dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài khảo sát bao nhiêu người và thuộc những nhóm việc làm nào tại xã Sơn Nam?

Đề tài thực hiện điều tra bảng hỏi trên mẫu $N = 35$ lao động phi nông nghiệp và 11 cuộc phỏng vấn sâu (1 cán bộ xã, 10 người dân). Cơ cấu việc làm của mẫu gồm: công nhân xí nghiệp (37,1%), buôn bán - dịch vụ (31,4%), lao động tự do (20,0%) và cán bộ, công chức, viên chức (11,4%).

2. Tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động và chế độ bảo hiểm của người lao động thay đổi như thế nào trong thời gian giãn cách xã hội?

Tỷ lệ người lao động có hợp đồng lao động giảm mạnh từ 54,3% trước dịch xuống còn 28,6% trong thời gian giãn cách do tình trạng mất việc, tạm hoãn hợp đồng hoặc chuyển sang làm tự do. Tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp giảm từ 28,6% xuống 20,0%, trong khi tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 48,6% lên 62,9% do người dân chủ động tự mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro sức khỏe trong dịch bệnh.

3. Nhóm lao động phi nông nghiệp nào chịu ảnh hưởng nặng nề nhất tại địa phương?

Nhóm lao động tự do (thợ xây, xe ôm, bốc vác) chịu tác động nặng nề nhất do các công trình xây dựng và hoạt động lưu thông bị đình trệ hoàn toàn trong giãn cách, đồng thời do hạn chế về trình độ và tuổi tác nên họ không thể tìm kiếm việc làm thay thế. Kế đến là nhóm dịch vụ làm đẹp, quán ăn bị buộc đóng cửa và nhóm công nhân bị cắt giảm việc làm luân phiên do đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu.

4. Lý thuyết xã hội học nào được tác giả ứng dụng để luận giải các hành vi thích ứng của người dân?

Tác giả sử dụng Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber để giải thích cách người dân chủ động lựa chọn phương thức thích nghi có mục đích (chuyển sang bán hàng thiết yếu tại nhà, đăng bài bán qua mạng xã hội, cắt giảm chi tiêu không cần thiết, tự mua bảo hiểm y tế) và Lý thuyết cấu trúc chức năng để phân tích sự điều chỉnh của toàn bộ hệ thống việc làm - thu nhập nhằm tìm kiếm trạng thái cân bằng mới trước cú sốc đại dịch.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ôn Thị Thủy đã phản ánh toàn diện và khách quan bức tranh tác động của đại dịch Covid-19 đến việc làm phi nông nghiệp tại xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thông qua các dữ liệu định lượng và định tính thực địa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự sụt giảm nghiêm trọng về tính ổn định của công việc, thời gian làm việc, mức thu nhập cũng như các chế độ phúc lợi và hợp đồng lao động trong giai đoạn giãn cách xã hội. Đồng thời, công trình làm rõ những nỗ lực tự thích ứng của người dân nông thôn và nhấn mạnh tính cấp thiết của việc kiện toàn chính sách an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức trước các cú sốc kinh tế - xã hội bất ngờ.