phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO TIN LÀNH VÀ ĐỜI SỐNG TÍN NGƢỠNG CỦA NGƢỜI HMÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái quát chung về đạo Tin Lành 1.1 Sự hình thành và giáo lý, lễ nghi cơ bản của đạo Tin Lành Sự hình thành đạo Tin Lành Thứ nhất, sự xuất hiện của giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến với yêu cầu tiến hành cuộc cách mạng xã hội. Châu Âu thế kỷ XV – XVII là thời kỳ giai cấp tư sản xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.
Lúc bấy giờ nó là giai cấp tiêu biểu, tiến bộ của thời đại, là lực lượng mới đại diện cho sự ra đời của một phương thức sản xuất mới là chủ nghĩa tư bản, thay thế cho chế độ phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu – vốn đã trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Trong xã hội phong kiến Tây Âu thời kỳ Trung cổ, nhân tố quan trọng nhất để duy trì xã hội đó là sự cân bằng quyền lực của Giáo hội và Nhà nước thế tục. Các thế lực phong kiến muốn được thần dân tuân phục phải nhờ đến giáo quyền hậu thuẫn, và giáo quyền muốn có thế lực phải dựa và sự ủng hộ của thế quyền. Nói cách khác, giai cấp phong kiến đã sử dụng Công giáo làm bệ đỡ tư tưởng cho sự thống trị của mình đối với xã hội.
Ngược lại, Giáo hội Công giáo đã phong kiến hóa, chính trị hóa tôn giáo của mình và quan hệ chặt chẽ với thế lực phong kiến. Với tư cách một lực lượng tiến bộ trong xã hội, giai cấp tư sản đương nhiên muốn loại bỏ quyền lực của giai cấp phong kiến, đồng thời xóa bỏ chế độ cũ, thiết lập chế độ mới. Song, muốn làm được điều đó thì trước tiên giai cấp tư sản phải có một hệ tưởng mới để đối chọi với hệ tư tưởng Công giáo đang bao bọc nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. Hệ tư tưởng đó, hay tôn giáo đó phải đáp ứng được yêu cầu của giai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấp tư sản và thời đại, không tổ chức cầu kỳ, nghi lễ phức tạp, tốn kém cả về vật chất và thời gian mà phải là một tôn giáo hiện đại, lễ nghi đơn giản, ít tục lệ phiền toái mà lại gần gũi với đời sống con người, phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, tư tưởng tự do, dân chủ kiểu tư sản.
Cải tổ Giáo hội Công giáo, quay trở về với hình bóng nguyên sơ ban đầu của Kitô giáo, đơn giản và có sự bình đẳng giữa các tín đồ đối với Thiên Chúa là cách mà giai cấp tư sản đã chọn để xây dựng tôn giáo mới của mình. Như vậy, sự xuất hiện của giai cấp tư sản ở Châu Âu thế kỷ XVI và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản với các thế lực phong kiến là một trong những tiền đề cho sự ra đời của đạo Tin Lành. Thứ hai, sự bế tắc của nền thần học kinh viện và sự tha hóa của Giáo hội Công giáo La Mã. Nền Thần học Kinh viện được coi là cơ sở quyền lực của Giáo hội Công giáo ở Châu Âu thời kỳ Trung cổ, được hình thành vào khoảng thế kỷ XI và phát triển mạnh mẽ trong khoảng thế kỷ XIII – XIV.
Thần học Kinh viện là chỗ dựa vững chắc của giáo thuyết và giáo quyền, đề cao quyền lực của Giáo hội và đặc biệt là quyền lực của Giáo Hoàng: “Giáo hội Công giáo tồn tại như một lực lượng siêu phàm đứng trên thế quyền, chi phối thế quyền. Giáo Hoàng ở vị trí tột đỉnh về quyền lực, cả về thần quyền và thế quyền, Giáo Hoàng có quyền ban vương miện cho người này hoặc đổi lại cho người kia nếu họ thuần phục Giáo hội” [67; tr 26]. Nhưng tới cuối thế kỷ XV, trước những luồng gió mới của phong trào phục hưng văn hóa, tư tưởng duy vật tiến bộ, đề cao những giá trị nhân văn, nền Thần học Kinh viện bị suy thoái và bế tắc do chỉ tập trung vào những lý thuyết của xã hội cũ để lại, tách rời khỏi sự vận động thực tiễn của xã hội đương thời. Nền Thần học Kinh viện đã trở nên lỗi thời so với luồng phục hưng văn hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được sự vận động mới của xã hội.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh sự bế tác của nền Thần học Kinh viện là sự tha hóa của hàng Giáo phẩm Công giáo đòi hỏi phải tiến hành cuộc cải cách tôn giáo. Các nhân vật được xem là đại diện cho Chúa Trời thực hiện những nghi lễ mang tính thiêng liêng nay không còn nữa, họ mải mê vơ vét của cải của con chiên để làm giàu cho bản thân, ăn chơi sa đọa, đạo đức bị xuống cấp nghiêm trọng. Đặc biệt dưới thời Giáo hoàng Leon X (1513 -1521), cả Giáo Hoàng và hàng Giáo phẩm sống xa hoa, trần tục, lợi dụng danh nghĩa thánh thần nhằm mục đích kinh tế. Năm 1511, Giáo Hoàng Leon X ra lệnh ban “ơn toàn xá” cho những ai dâng cúng tiền cho Giáo hội với việc bán “bùa xá tội”, cùng lời truyền ai mua nhiều sẽ được xóa mọi tội lỗi, dù tội đang phạm, đã phạm hay chưa phạm và khi chết sẽ nhanh chóng được lên thiên đường.
Trong lúc đó, đời sống của các tầng lớp nhân dân và các tín đồ châu Âu rất cơ cực, thiếu thốn nên họ rất oán hận Giáo hội. Việc làm sai trái của Giáo hội đã tạo ra một làm sóng phản ứng mạnh mẽ trong các tín đồ, giáo sỹ nước Đức, nơi được mệnh danh là “con bò sữa của Giáo Hoàng” [67; tr 51]. Phong trào cải cách tôn giáo dấy lên từ đây và đó chính là một trong những tiền đề cho đạo Tin Lành ra đời. Thứ ba, sự tác động ảnh hưởng của phong trào văn hóa phục hưng và chủ nghĩa nhân văn.
Trong thời kỳ Trung cổ, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật, triết học, khoa học tự nhiên đều sự chi phối của thế lực phong kiến và Giáo hội. Những tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã đạt được ở thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại đều chịu sự chi phối của tôn giáo, chìm đắm trong “đem trường trung cổ”. Mọi hoạt động của xã hội đều tập trung phục vụ cho sự phát triển của Thần học, của Giáo hội Công giáo với phương châm “Thượng Đế là tất cả”. Nhiều nhà khoa học và nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đứng ra bảo vệ chân lý, chống lại Giáo hội đều bị săn đuổi, truy lung hoặc chết trên giàn hỏa thiêu.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc trung cổ bước vào thời kỳ tan rã. Giai cấp tư sản mới và tầng lớp tiểu tư sản thị dân nhận thấy cần thiết phải thay thế thiết chế văn hóa bị chi phối bởi màu sắc tôn giáo, không còn phù hợp với thực tiễn mới của xã hội. Họ mong muốn xây dựng nền văn hóa mới ca ngợi sự tự do của con người, giải phóng con người. Hay nói cách khác, họ muốn phục hưng văn hóa, phục hồi giá trị văn hóa đã đạt được ở thời kỳ cổ đại về tự do tư tưởng và đề cao nhân phẩm con người.
Văn hóa phục hưng chủ trương con người là đối tượng phản ánh của văn hóa, con người là trung tâm của vũ trụ, là một thực thể vĩ đại, con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình, chứ không phải là những sinh vật nhỏ bé, yếu đuối, phụ thuộc vào Thượng Đế. Như vậy, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của văn hóa phục hưng chống lại quan niệm tôn giáo thần bí, thoát khỏi ảnh hưởng của thần học và Giáo hội đã tạo môi trường và đặt cơ sở tư tưởng cho một cuộc cải cách tôn giáo, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành ở thế kỷ XVI. Thứ tư, sự ra đời của đạo Tin Lành gắn liền với vai trò của Martin Luther Martin Luther (1483 – 1546) là người đề xướng và trở thành lãnh tụ có ảnh hưởng lớn đối với phong trào cải cách Công giáo ở Đức. Ông sinh ra ở xứ Saxon nước Đức, là người thông minh, có tư tưởng tiến bộ, là linh mục dòng Augustin, giáo sư trường đại học Wittenberg và là tiến sĩ thần học.
Ông có nhiều bài viết quan trọng chống lại Giáo hội Công giáo và Giáo Hoàng như: “Chín mươi lăm luận đề”, “Tặng cho quý tộc Đức”, “Cuộc lưu đày Babilon”, “Sự tự do cho tín đồ”… Đặc biệt, vào giai đoạn cuối đời, ông tập trung vào việc giải thích Kinh Thánh và dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức. Việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức của ông là một sự cống hiến lớn cho văn hóa nước Đức. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những tư tưởng cơ bản của Luther phục vụ cho cuộc cải cách Công giáo, tập trung chống lại sự tha hóa, sự xuống cấp về mặt đạo đức, lối sống trần tục, hủ bại, xa hoa nơi Giáo triều của Giáo Hoàng và Giáo quyền La Mã – nơi được xem là linh thiêng, thánh thiện. Bắt đầu bằng việc công bố bài viết “Chín mươi lăm luận đề” của mình, Luther phê phán và lên án Giáo Hoàng và Giáo triều Rôma lợi dụng việc bán “Bùa xá tội” để bóc lột kinh tế của các con chiên.
Ông thẳng thắn phê phán Giáo Hoàng: “Nếu Giáo hoàng có thể giải cứu linh hồn người ta khỏi ngục luyện tội, cớ sao không tỏ lòng đau xót các linh hồn đáng thương hại ấy mà giải cứu hết một lượt”… “thà ông (Giáo Hoàng) trông thấy đại giáo đường thánh Pierre bị phóng hỏa ra tro bụi còn hơn xây cất nó trên xương máu của con chiên trong bầy mình” [67; tr 57]. Giáo Hoàng không có quyền xóa bất kỳ tội lỗi nào, ông chỉ có quyền xóa sự trừng phạt mà ông ta dùng quyền của mình, hoặc uy quyền tôn giáo đối với con người. Việc làm của Martin Luther đã được đông đảo nhân dân và tín đồ ủng hộ, tạo thêm cho ông một động lực mạnh trong công cuộc cải cách tôn giáo. Ngoài lực lượng có tư tưởng tiến bộ ủng hộ ý đồ cải cách Công giáo của ông, thì hàng Giáo phẩm cao cấp và các nhà Thần học Kinh viện lại kịch liệt phản đối, răn đe, ngăn cản.