Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Bảo Như, chuyên ngành Kế toán (mã số 9340301), được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Mai Thị Hoàng Minh, mang tên: “Ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chất lượng lợi nhuận, với đại diện cốt lõi là tính ổn định của lợi nhuận, giữ vai trò then chốt trong phân tích tài chính và dự báo dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (Book-Tax Differences - BTD) phản ánh những xử lý khác biệt giữa chuẩn mực kế toán và luật thuế, đồng thời chứa đựng thông tin về hành vi điều chỉnh lợi nhuận hoặc tránh thuế của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, tiến trình cải cách thuế TNDN (thuế suất giảm dần từ 25% năm 2009 xuống 20% từ năm 2016) cùng sự ra đời của Thông tư số 200/2014/TT-BTC áp dụng từ năm 2015 đã tạo ra những thay đổi căn bản trong hạch toán kế toán và xác định thu nhập chịu thuế. Đồng thời, thị trường chứng khoán đối mặt với hiện tượng chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán cũng như hành vi tránh thuế ngày càng phức tạp. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã xem xét mối quan hệ giữa BTD và tính ổn định của lợi nhuận hoặc thành phần dồn tích, các nghiên cứu tại thị trường mới nổi như Việt Nam phần lớn mang tính định tính, phạm vi hẹp hoặc chưa phân tách ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đối với thành phần dòng tiền qua các thời kỳ thay đổi chế độ kế toán.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận; xác định ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định này; so sánh sự khác biệt của mối quan hệ trên qua hai giai đoạn áp dụng chế độ kế toán tại Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Kiểm tra, đo lường và so sánh tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019).
    2. Xác định và so sánh ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019.
    3. Xác định và so sánh ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, khác biệt quy định kế toán - thuế) đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Câu 1: Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận tại Việt Nam như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
  2. Câu 2: BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
  3. Câu 3: Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính ổn định của lợi nhuận, tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận (dòng tiền và dồn tích), BTD và các nguyên nhân gây ra BTD của các công ty niêm yết.
  • Phạm vi không gian: Các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Luận án loại trừ các công ty thuộc nhóm ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm (do đặc thù quy định riêng), các công ty mới niêm yết thiếu quan sát, các công ty không thu thập đủ dữ liệu báo cáo tài chính liên tục 3 năm và các công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm 2014.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thu thập trong 10 năm từ 2010 đến 2019, chia làm hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019. Luận án không thu thập dữ liệu năm 2020 và 2021 nhằm loại bỏ tác động bất lợi của dịch bệnh Covid-19 lên các chỉ tiêu báo cáo tài chính.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật chi tiết các dòng nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước xoay quanh ba chủ đề chính:

[Các hướng nghiên cứu tổng quan]

1. Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận

  • Quốc tế: Ban đầu, Ball và Brown (1969), Ball và Watts (1972) nhận định biến động lợi nhuận mang tính độc lập qua các năm. Sau đó, Brooks và Buckmaster (1976), R. Freeman và cộng sự (1982), Lipe (1990) chứng minh lợi nhuận quá khứ có tính ổn định và liên hệ với lợi nhuận tương lai. Sloan (1996) dùng dữ liệu bảng khẳng định lợi nhuận có tính ổn định, đồng thời chỉ ra thành phần dòng tiền có tính ổn định cao hơn thành phần dồn tích. Các công trình của Basu (1997), Hayn (1995), Frankel và Litov (2009) phân tích nguyên nhân khiến các khoản lỗ kế toán kém ổn định hơn các khoản lãi. Fairfield và cộng sự (2003b), Xie (2001), Patricia M. Dechow và Dichev (2002), Richardson và cộng sự (2005, 2006), Patricia M. Dechow và Ge (2006), Oei và cộng sự (2008), Hao (2009) chứng minh sai số ước tính và hành vi điều chỉnh dồn tích làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận. Về phía dòng tiền, Mary E. Barth và cộng sự (2001), Cheng và Hollie (2005), Patricia M. Dechow và cộng sự (2008), Ball và Shivakumar (2005, 2006) khẳng định dòng tiền phản ánh năng lực hoạt động cốt lõi và ổn định hơn dồn tích. Tại Ai Cập, Abousamak (2018) đưa ra ngoại lệ khi dồn tích ổn định hơn dòng tiền sau khi áp dụng IFRS.
  • Trong nước: Nguyet (2017), Vinh và Huong (2019), Hung và Van (2020), Nhung và cộng sự (2020) nghiên cứu các khía cạnh biến động, sở hữu nước ngoài và chất lượng lợi nhuận. Lê Quang Minh và cộng sự (2013), Đường Nguyễn Hưng (2014), Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021) xác nhận dòng tiền ổn định hơn thành phần dồn tích tại các công ty niêm yết Việt Nam.

2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần

  • Quốc tế: Mills và Newberry (2001), Ayers và cộng sự (2010), Heltzer (2009) chỉ ra độ lớn và chiều hướng của BTD là tín hiệu phản ánh chất lượng lợi nhuận và mức độ thận trọng kế toán. Hai nhánh nghiên cứu tiêu biểu gồm: Lev và Nissim (2004) cho rằng tổng BTD cung cấp thông tin dự báo lợi nhuận tương lai nhưng chênh lệch tạm thời thì không; ngược lại, Hanlon (2005), Phillips và cộng sự (2003), Blaylock và cộng sự (2012), Guenther (2011), Jackson (2015) chứng minh BTD tạm thời có quan hệ nghịch chiều với tính ổn định của lợi nhuận trước thuế và thành phần dồn tích. Comprix và cộng sự (2010), Marques và cộng sự (2016), Atwood và cộng sự (2010) khảo sát ảnh hưởng của BTD tạm thời, BTD vĩnh viễn và mức độ gắn kết giữa kế toán và thuế trong môi trường thể chế đa quốc gia.
  • Trong nước: Nguyễn Thị Minh Trang (2011), Chúc Anh Tú (2014), Trần Thị Lan Hương và Ngô Thị Hường (2017), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2020) phân tích định tính quy định thuế hoãn lại; Pham (2020) khảo sát tác động giảm thuế TNDN; Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015), Huỳnh Thị Cẩm Hà và cộng sự (2016), Trương Thùy Vân (2017) khảo sát động cơ tránh thuế theo ngành; M. Minh và Nhu (2019), Lê Thị Bảo Như và cộng sự (2020) kiểm tra tác động của BTD đến tính thận trọng kế toán và quyết toán thuế.

3. Nghiên cứu về các nguyên nhân gây ra BTD

  • Quốc tế: BTD phát sinh từ ba nguồn chính: sự khác biệt khách quan giữa chuẩn mực kế toán và luật thuế (Guenther, 2011; Jackson, 2015), hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Healy và Wahlen, 1999; Schipper, 1989; Mills, 1998; Dhaliwal và cộng sự, 2004; Badertscher và cộng sự, 2009; Ahnan và Murwaningsari, 2019), và hành vi tránh thuế (Plesko, 1999; Desai, 2003; Desai và Dharmapala, 2006; Dyreng và cộng sự, 2008; Wilson, 2009; Lisowsky, 2010; Frank và cộng sự, 2009; Hanlon và Slemrod, 2009; Y. Choi, 2021; Mulya, 2020). Blaylock và cộng sự (2012) chứng minh các công ty có BTD dương lớn phát sinh do điều chỉnh lợi nhuận có lợi nhuận kém ổn định, trong khi BTD phát sinh do tránh thuế lại có tính ổn định lợi nhuận và dồn tích cao hơn.
  • Trong nước: Khuong và cộng sự (2019), Hong và Linh (2020) phân tích điều chỉnh lợi nhuận qua hoạt động thực tế; Hà và Quyên (2017), Ha và cộng sự (2021, 2022), Le và Moore (2022), Khanh và Khuong (2019), H. Minh và cộng sự (2021), Anh và Hoang (2021), Oanh và Gan (2022) nghiên cứu hành vi tránh thuế liên quan đến sở hữu nhà nước, chi phí nợ, đòn bẩy và giá trị doanh nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đối với tính ổn định của thành phần dòng tiền (vốn chưa được kiểm định thực nghiệm đầy đủ trong các công trình quốc tế trước đây như Hanlon, 2005).
  2. Thực hiện so sánh thực nghiệm toàn diện về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần qua hai khung khổ kế toán trước và sau khi ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. Xây dựng quy trình đo lường BTD và phân nhóm doanh nghiệp theo nguyên nhân gây ra BTD phù hợp với bối cảnh Việt Nam, loại trừ sai lệch do sự thay đổi thuế suất thuế TNDN qua nhiều thời kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống 5 lý thuyết nền tảng trong kế toán và tài chính:

  • Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory): Báo cáo tài chính cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá dòng tiền và lợi nhuận tương lai.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): Doanh nghiệp chịu sự giám sát từ nhiều nhóm lợi ích (cổ đông, cơ quan thuế, chủ nợ); BTD phản ánh mức độ đáp ứng nghĩa vụ thuế và tính minh bạch thông tin.
  • Lý thuyết đại diện (Agency theory): Xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông thúc đẩy hành vi điều chỉnh số liệu kế toán hoặc giảm thuế nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân.
  • Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive accounting theory): Giải thích động cơ của nhà quản lý trong việc lựa chọn các chính sách kế toán tùy ý dựa trên các giả thuyết thưởng, nợ vay và chi phí chính trị.
  • Lý thuyết thể chế (Institutional theory): Doanh nghiệp điều chỉnh hành vi kế toán nhằm tuân thủ quy định pháp lý và môi trường thể chế quản lý tại quốc gia hoạt động.
Khái niệm / Biến số Định nghĩa và bản chất
Lợi nhuận kế toán Lợi nhuận trước thuế được xác định theo chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành.
Thu nhập chịu thuế Thu nhập làm căn cứ tính thuế TNDN theo quy định của pháp luật thuế.
BTD (Book-Tax Differences) Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế; đại diện cho sự khác biệt quy định hoặc hành vi chủ ý của doanh nghiệp.
Tính ổn định của lợi nhuận Mức độ lặp lại của lợi nhuận hiện tại trong lợi nhuận tương lai (hệ số hồi quy biến trễ).
Dòng tiền & Dồn tích Hai thành phần cấu thành lợi nhuận kế toán ($LN = Dòng\ tiền + Dồn\ tích$).
LPBTD & LNBTD Nhóm công ty có BTD dương lớn (Large Positive) và BTD âm lớn (Large Negative).
EM, TAXAVOIDER, BASE Ba nhóm nguyên nhân gây ra LPBTD: Điều chỉnh lợi nhuận tăng ($EM$), Tránh thuế ($TAXAVOIDER$), và Khác biệt quy định chuẩn tắc ($BASE$).

Phương pháp nghiên cứu và quy trình phân tích

Luận án sử dụng phương pháp định lượng trên dữ liệu bảng động (dynamic panel data), kế thừa và phát triển từ mô hình của Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012):

[Dữ liệu BCTC & Thuế 2010–2019 (HOSE & HNX)]
        [Thống kê mô tả & Ma trận tương quan]
   [Kiểm định đa cộng tuyến (VIF) & Lựa chọn mô hình]
         (POLS vs. FEM qua F-test; POLS vs. REM qua LM-test;
                 FEM vs. REM qua Hausman test)
      [Kiểm định khuyết tật mô hình trên Panel Data]
     - Hiện tượng phương sai thay đổi của phần dư
     - Hiện tượng tự tương quan của phần dư
       [Ước lượng FGLS (Feasible Generalized Least Squares)]
     - Đánh giá tính ổn định của LN và các thành phần
     - Đo lường tác động của BTD (LPBTD, LNBTD)
     - Đo lường tác động của các nguyên nhân (EM, TAXAVOIDER, BASE)
     - So sánh 2 giai đoạn: 2010–2014 và 2015–2019

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến ba nhóm nội dung: (1) Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần (dòng tiền, dồn tích); (2) Ảnh hưởng của BTD (tổng BTD, BTD tạm thời, BTD vĩnh viễn, BTD âm/dương lớn) đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần; (3) Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây BTD (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, quy định kế toán - thuế) đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần. Từ việc tổng thuật, chương này chỉ rõ khe hổng nghiên cứu tại Việt Nam về việc thiếu vắng các đánh giá định lượng về dòng tiền và so sánh qua các giai đoạn áp dụng chế độ kế toán.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Chương 2 trình bày các khái niệm nền tảng về lợi nhuận kế toán, thu nhập chịu thuế, BTD, tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần cấu thành lợi nhuận. Tác giả liên kết các hiện tượng nghiên cứu với 4 lý thuyết cốt lõi (Lý thuyết thông tin hữu ích, Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết đại diện, Lý thuyết kế toán thực chứng) và bối cảnh thể chế tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án thiết lập hệ thống các giả thuyết kiểm định:

  • Giả thuyết về tính ổn định: Lợi nhuận và các thành phần lợi nhuận có tính ổn định qua thời gian; thành phần dòng tiền có tính ổn định cao hơn thành phần dồn tích.
  • Giả thuyết về ảnh hưởng của BTD: Độ lớn của BTD (đặc biệt là nhóm LPBTD và LNBTD) làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận.
  • Giả thuyết về nguyên nhân gây ra BTD: Nhóm doanh nghiệp có LPBTD xuất phát từ hành vi điều chỉnh lợi nhuận ($EM$) có tính ổn định lợi nhuận và các thành phần thấp hơn nhóm xuất phát từ quy định kế toán ($BASE$); ngược lại, nhóm LPBTD xuất phát từ tránh thuế ($TAXAVOIDER$) có tính ổn định lợi nhuận và các thành phần cao hơn nhóm $BASE$.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, kỹ thuật thu thập dữ liệu bảng, định nghĩa danh mục các biến và các phương trình hồi quy. Tác giả xây dựng các mô hình kiểm định tính ổn định của lợi nhuận, mô hình kiểm định ảnh hưởng của các phân nhóm BTD, và mô hình kiểm định ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD theo hai cách phân loại doanh nghiệp (cách phân loại 1 dựa trên dồn tích điều chỉnh và thuế suất thực tế chênh lệch; cách phân loại 2 bổ sung kiểm tra tính vững). Chương này cũng thiết lập các kiểm định thống kê lựa chọn giữa POLS, FEM, REM và xác định phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan phần dư.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 công bố toàn bộ kết quả thực nghiệm thu được từ dữ liệu bảng các công ty niêm yết:

  • Thống kê mô tả và kiểm định chẩn đoán: Ma trận tương quan Pearson và kiểm định VIF cho thấy mô hình không bị đa cộng tuyến nghiêm trọng. Các kiểm định lựa chọn mô hình chỉ ra FEM/REM phù hợp hơn POLS, kiểm định Hausman và các kiểm định khuyết tật xác nhận có hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan phần dư, chuẩn hóa phương pháp ước lượng bằng FGLS.
  • Kết quả kiểm tra tính ổn định: Trong cả hai giai đoạn (2010–2014 và 2015–2019), lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận đều thể hiện tính ổn định có ý nghĩa thống kê; hệ số ổn định của thành phần dòng tiền luôn lớn hơn hệ số ổn định của thành phần dồn tích.
  • Kết quả ảnh hưởng của BTD: Ở giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC (2015–2019), BTD mang giá trị lớn (cả LPBTD và LNBTD) làm suy giảm đáng kể tính ổn định của lợi nhuận và tính ổn định của thành phần dồn tích cũng như dòng tiền so với nhóm BTD nhỏ.
  • Kết quả ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD: Đối với nhóm công ty có BTD dương lớn (LPBTD) trong giai đoạn 2015–2019, các công ty có BTD phát sinh từ điều chỉnh lợi nhuận tăng ($EM$) có lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận ít ổn định hơn; trong khi các công ty có BTD phát sinh do tránh thuế ($TAXAVOIDER$) lại có lợi nhuận và các thành phần ổn định hơn so với nhóm BTD do chênh lệch quy tắc kế toán - thuế ($BASE$).
  • Thảo luận: Tác giả so sánh chi tiết kết quả giữa hai thời kỳ, chứng minh Thông tư 200/2014/TT-BTC đã nâng cao mức độ phản ánh thực chất của số liệu kế toán và làm rõ hơn vai trò thông tin của BTD trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị

Chương 5 đúc kết các phát hiện chính, làm rõ đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn, đồng thời đề xuất hệ thống hàm ý quản trị cụ thể cho cơ quan quản lý nhà nước, ban điều hành/kế toán trưởng doanh nghiệp và nhà đầu tư. Cuối cùng, tác giả nêu rõ các giới hạn của nghiên cứu và gợi mở các hướng đi tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  1. Củng cố bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh thị trường mới nổi: Xác nhận tính ổn định của lợi nhuận và tính ổn định vượt trội của thành phần dòng tiền so với thành phần dồn tích tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua 10 năm nghiên cứu.
  2. Mở rộng kiểm định đến thành phần dòng tiền: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của dòng tiền (giải quyết khoảng trống lý thuyết mà Hanlon, 2005 chưa kiểm định thực nghiệm).
  3. Xây dựng phương pháp phân nhóm nguyên nhân BTD phù hợp điều kiện thực tế: Thiết lập quy trình phân loại nhóm doanh nghiệp có BTD phát sinh từ điều chỉnh lợi nhuận ($EM$), tránh thuế ($TAXAVOIDER$) và khác biệt chính sách thuần túy ($BASE$), loại trừ được tác động méo mó do sự thay đổi thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam qua nhiều năm.
  4. Đánh giá tác động chuyển đổi chế độ kế toán: Làm rõ sự khác biệt về vai trò thông tin của BTD và chất lượng lợi nhuận trước và sau khi triển khai Thông tư 200/2014/TT-BTC, đóng góp luận cứ khoa học cho lộ trình tiến tới áp dụng IFRS tại Việt Nam.

Kiến nghị và hàm ý quản trị từ kết quả nghiên cứu

  • Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước):
    • Cần tăng cường quy định yêu cầu doanh nghiệp thuyết minh chi tiết hơn về các khoản chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, phân định rõ chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn trên thuyết minh báo cáo tài chính.
    • Hoàn thiện quy định phối hợp giữa cơ quan quản lý thị trường chứng khoán và cơ quan thuế nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu thao túng số liệu hoặc tránh thuế bất hợp lý thông qua các khoản BTD bất thường.
  • Đối với Kế toán trưởng và nhà quản trị doanh nghiệp:
    • Cần nhận thức rõ việc lạm dụng quyền tùy chọn kế toán để điều chỉnh tăng lợi nhuận dồn tích sẽ làm suy giảm tính bền vững của lợi nhuận và dòng tiền tương lai, gây tổn hại đến xếp hạng tín nhiệm và giá trị doanh nghiệp.
    • Tuân thủ nhất quán các quy định của Thông tư 200/2014/TT-BTC và chuẩn mực kế toán trong ghi nhận doanh thu, chi phí và thuế thu nhập hoãn lại.
  • Đối với nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính:
    • Không nên chỉ nhìn vào chỉ tiêu lợi nhuận ròng đơn lẻ mà cần bóc tách cấu trúc lợi nhuận thành dòng tiền và dồn tích, đồng thời theo dõi sát chỉ số BTD.
    • Cần thận trọng khi đánh giá các doanh nghiệp có BTD dương lớn do điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán; phân biệt với các doanh nghiệp có BTD dương lớn bắt nguồn từ hoạt động quản trị thuế hiệu quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    1. Mẫu quan sát loại trừ toàn bộ các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù lập báo cáo và quy định pháp lý riêng, do đó kết quả chưa mang tính đại diện cho toàn bộ các ngành kinh tế.
    2. Nghiên cứu dừng dữ liệu ở năm 2019 để tránh tác động bất lợi của dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn 2020–2021, chưa đánh giá được hành vi điều chỉnh BTD trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế y tế.
    3. Phương pháp ước lượng thu nhập chịu thuế và bóc tách BTD vẫn phụ thuộc vào mức độ công bố thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính đã kiểm toán.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Mở rộng nghiên cứu cho các định chế tài chính, ngân hàng bằng việc thiết kế các mô hình đặc thù.
    2. Cập nhật dữ liệu giai đoạn phục hồi sau Covid-19 và giai đoạn chuẩn bị thực hiện áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS tại Việt Nam.
    3. Đi sâu phân tích ảnh hưởng của từng cấu phần chi tiết trong BTD vĩnh viễn và BTD tạm thời đến chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán - Tài chính: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về phân tích dữ liệu bảng động (FGLS), cách thức đo lường biến BTD và kỹ thuật kiểm định tính ổn định của các thành phần lợi nhuận.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà làm chính sách: Cung cấp căn cứ thực nghiệm về sự tương tác giữa Thông tư 200/2014/TT-BTC và Luật Thuế TNDN, hỗ trợ việc thiết kế chính sách thuế và chuẩn mực kế toán hài hòa.
  • Nhà đầu tư, kiểm toán viên và chuyên viên phân tích tài chính: Cung cấp công cụ nhận diện chất lượng lợi nhuận thông qua phân tích BTD, giúp phát hiện sớm các rủi ro điều chỉnh dồn tích và dự báo dòng tiền tương lai chính xác hơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ tiêu BTD trong luận án được xác định cụ thể như thế nào?
Trong luận án, BTD (Book-Tax Differences) là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách tổng hợp chi phí thuế TNDN hiện hành chia cho thuế suất luật định, có điều chỉnh cho phù hợp với quy định thuế tại Việt Nam theo từng thời kỳ.

2. Vì sao luận án chia dữ liệu thành hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019?
Việc phân chia hai giai đoạn gắn liền với mốc hiệu lực của Thông tư số 200/2014/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC). Việc chia giai đoạn cho phép đo lường và so sánh tính ổn định của lợi nhuận cũng như vai trò thông tin của BTD dưới hai chế độ kế toán khác nhau trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kế toán quốc tế.

3. Thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích thể hiện tính ổn định khác nhau ra sao trong kết quả nghiên cứu?
Kết quả ước lượng thực nghiệm (FGLS) trong cả hai giai đoạn đều chỉ ra rằng thành phần dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có hệ số ổn định cao hơn đáng kể so với thành phần dồn tích. Điều này phản ánh dòng tiền ít bị tác động bởi các ước tính kế toán chủ quan và mang tính bền vững hơn trong việc giải thích lợi nhuận tương lai.

4. Luận án phân loại các nguyên nhân gây ra BTD dương lớn (LPBTD) thành những nhóm nào và tác động của từng nhóm ra sao?
Từ nhóm công ty có BTD dương lớn (LPBTD), tác giả phân thành 3 nhóm nguyên nhân: (1) Điều chỉnh lợi nhuận tăng ($EM$), (2) Tránh thuế ($TAXAVOIDER$), và (3) Khác biệt quy định chuẩn tắc giữa kế toán và thuế ($BASE$). Kết quả giai đoạn 2015–2019 cho thấy nhóm $EM$ có tính ổn định lợi nhuận và các thành phần kém nhất, trong khi nhóm $TAXAVOIDER$ lại có tính ổn định cao hơn nhóm $BASE$.

5. Tại sao dữ liệu năm 2020 và 2021 không được đưa vào mẫu nghiên cứu?
Trong hai năm 2020 và 2021, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động bất lợi mạnh từ đại dịch Covid-19 làm biến động bất thường các chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu và dòng tiền của các doanh nghiệp niêm yết. Luận án chủ động không cập nhật hai năm này nhằm tránh hiện tượng sai lệch cấu trúc dữ liệu và đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Bảo Như đã giải quyết toàn diện các câu hỏi nghiên cứu về ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận cùng các thành phần dòng tiền, dồn tích tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010–2019. Bằng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động FGLS và kỹ thuật phân tách mẫu phụ khoa học, công trình đã chứng minh tính ổn định của dòng tiền vượt trội hơn dồn tích, đồng thời khẳng định BTD lớn do điều chỉnh lợi nhuận làm suy giảm nghiêm trọng tính bền vững của lợi nhuận, đặc biệt trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC. Các phát hiện thực nghiệm của luận án là nguồn tài liệu có giá trị học thuật và thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản trị doanh nghiệp, dự báo tài chính và hoạch định chính sách kế toán - thuế tại Việt Nam.