Chương I đã giới thiệu tổng quan về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương II trình bày những nội dung lý thuyết làm cơ sở cho nghiên cứu này: chất lượng sống trong công việc, sự hài lòng trong công việc và kết quả công việc. Chương này cũng trình bày mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.1 Chất lượng lượng sống trong công việc Khái niệm chất lượng sống trong công việc (Quality of Work Life - QWL) có nguồn gốc từ hơn ba thập kỷ trước đây, song hầu như rất ít được chú ý, tại thời điểm này, chất lượng sống trong công việc chỉ tập trung vào sức khỏe và chế độ lương bổng cho người lao động. Đến những năm 1990, các học giả và các học viên mới bắt đầu tiếp tục quan tâm và nghiên cứu về QWL, và từ đó khái niệm này đã được xem xét để trở thành yếu tố cần đổi mới, có vai trò quan trọng đối với tổ chức và điều hành bộ máy nhân sự.
Theo Gorden, Judith R (1987), chất lượng sống trong công việc đã phát triển như một khía cạnh quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả và năng suất của tổ chức. QWL là một thuật ngữ đa chiều, thể hiện sự cung cấp một sự cân bằng tốt trong đời sống công việc cho nhân viên. Mặc dù không có một định nghĩa chính thức về chất lượng sống trong công việc, các học giả và các nhà tâm lý học đồng ý chung chung rằng chất lượng sống trong công việc là một khái niệm gắn liền với phúc lợi của nhân viên, nó khác với sự thỏa mãn trong công việc, ở chỗ sự thỏa mãn trong công việc được hiểu là một trong những kết quả của QWL. QWL không chỉ ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc, mà còn ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong những lĩnh vực khác của cuộc sống như đời sống gia đình, đời sống xã hội, đời sống tài chính… Do đó, trọng tâm của QWL bao hàm cả sự thỏa mãn trong công việc.
QWL bao gồm: sự ảnh hưởng của nơi làm việc đến sự thỏa mãn với công việc, sự thỏa mãn trong những lĩnh vực khác của cuộc sống ngoài công việc, sự thỏa mãn với cuộc sống nói chung, hạnh phúc cá nhân… (Sirgy, 2001). 123doc 8 Danna và Griffin (1999) xem QWL như một hệ thống các khái niệm bao gồm: sự thỏa mãn trong cuộc sống (nằm trên cùng của hệ thống phân cấp), sự thỏa mãn trong công việc (nằm cấp giữa hệ thống phân cấp), và sự hài lòng ở một số khía cạnh cụ thể trong công việc như hài lòng với thu nhập nhận được, hài lòng với quan hệ đồng nghiệp, hài lòng với quan hệ với cấp trên,… Trong nghiên cứu của Chang & Tang năm 2009, QWL là việc đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nhân viên, bao gồm nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được ứng dụng và phát triển các kỹ năng của bản thân… Từ quan điểm của Mesut (2006), QWL được định nghĩa như là một phương pháp hoặc là một cách tiếp cận có sử dụng những kỹ thuật đặc biệt để cải thiện và thay đổi hiệu quả công việc. QWL là quan điểm cá nhân đối với công việc của họ, như là, tin tưởng lẫn nhau, sự đánh giá cao, công việc trọng yếu, và tính chất phù hợp của công việc trong môi trường làm việc được các nhà quản lý cung cấp cho nhân viên của mình. Trong thời gian gần đây, khái niệm chất lượng sống trong công việc đã ngày càng phổ biến hơn.
Câu hỏi được đặt ra là tại sao chất lượng sống trong công việc lại trở nên quan trọng. Theo nghiên cứu của Greenhaus (1987), có một số bằng chứng cho thấy rằng một nhân viên hạnh phúc là một nhân viên hiệu quả, một nhân viên hạnh phúc là một nhân viên tận tâm và trung thành. Đồng thời với nghiên cứu của mình, các tác giả cũng đã đưa ra vai trò và chức năng của QWL đối với hiệu quả của tổ chức, cụ thể như sau: 123doc 9 Bảng 2.1 Vai trò và chức năng của chất lượng sống trong công việc đối với tổ chức Vai trò và chức năng của QWL đối với tổ chức Tác giả nghiên cứu Dẫn đến việc tăng hoặc giảm sản lượng (năng suất) của tổ chức. (1974) Nâng cao sự thoả mãn của người lao động.
Goodman, Paul (1980) Sự dân chủ trong công việc.Levine (1983) “Sức khỏe” của tổ chức được cải thiện bởi vì người lao động trở Stacey, N. (1983) nên hiểu biết và tích cực hơn trong các vấn đề của công ty. Điều này dẫn đến làm thay đổi mức độ tham gia của các thành viên trong tổ chức. Trạng thái được cư xử công bằng đối với nhân công tại nơi làm Delamottee, Y.
(1984) Sự phát triển ý thức quản lý. (1985) Góp phần làm giảm chi phí và cải thiện năng suất. (1987) Hỗ trợ trong việc hình thành một mối quan hệ dựa trên sự trao đổi. (1998) Tăng cường doanh thu của nhân viên tại nơi làm việc.
(1989) Dẫn đến hành vi tùy ý hơn và cải thiện hiệu suất công việc. (2005) Dẫn đến việc có những cá nhân tích cực, đặc trưng và lâu dài trong Dukerich, J. (2002) Dẫn đến việc nâng cao động lực, tinh thần, quan hệ lao động lành Pranee C (2010) mạnh và hợp tác, dẫn đến năng lực tốt hơn, điều hành và quản lý tốt hơn. (Nguồn: Tripti Singh & cộng sự (2012)) Từ định nghĩa về QWL, các học giả cũng đã nghiên cứu và đưa ra các thành phần của QWL.
Bảng bên dưới trình bày những quan điểm khác nhau của các học giả về thành phần của QWL.2 Các yếu tố dùng để đánh giá chất lượng sống trong công việc Tác giả nghiên Các thành phần của QWL cứu Walton (1975) 1. Được chi trả công bằng và đầy đủ (bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp); 2. Điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; 3. Cung cấp các cơ hội thăng tiến và đảm bảo an toàn; 4.
Hợp pháp trong tổ chức; 5. Sự cân bằng giữa công việc và các khía cạnh khác trong cuộc sống; 6. Gắn kết xã hội trong công việc; 7. Phát triển khả năng của bản thân.
Sự quý trọng và tin tưởng vào khả năng của đội ngũ nhân viên của nhà quản lý; 2. & Sự thay đổi trong công việc; 3. Thách thức trong công việc; 4. Sự thăng tiến trong Davis(1984) tương lai xuất phát từ vị trí hiện tại; 5.
Lòng tự trọng; 6. Sự gắn kết và sự giao thoa giữa công việc và cuộc sống; 7. Sự góp phần của công việc trong việc nâng cao xã hội. Cai Hui-ru 1.
Chất lượng cuộc sống: thu nhập từ công việc, phúc lợi xã hội, an toàn lao động, sự (1994) hỗ trợ trong công việc; 2. Chất lượng xã hội: mối quan hệ với cấp trên, bạn đồng nghiệp và khách hàng; 3. Chất lượng tăng trưởng: quản lý hoạt động, tăng trưởng, sự phát triển cá nhân, lòng tự trọng, năng suất làm việc. Môi trường làm việc; 2.
Lương và phụ cấp; 3. Thăng tiến; 5. Tính chất Sheng, công việc; 6. Đào tạo và phát triển; 7.
Phong cách lãnh đạo của cấp trên; 8. Sự tham gia Fan Jing-Li của các đồng nghiệp; 9. Thông tin liên lạc; 10. Quy tắc tổ chức; 11.
Văn hóa và không (2000) khí tổ chức; 12. Thời gian làm việc và áp lực công việc Qing Tao, Peng 1. Trách nhiệm công việc: làm việc độc lập, tầm quan trọng của trách nhiệm và công Tian-Yu & Lou việc, thông tin phản hồi từ công việc; 2. Môi trườnng tổ chức: tinh thần đồng đội, mối Jian (2007) quan hệ giữa các cá nhân, phong cách quản lý; 3.
Tâm lý xã hội, sự hỗ trợ tinh thần và xã hội, được tôn trọng, hình ảnh xã hội của tổ chức, tình hình kinh tế. Chế độ phúc lợi tốt: hài lòng với những gì được trả, đáp ứng tốt cho bản thân và gia Thọ & cộng sự đình; 2. Có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp, được tôn trọng, có đủ thời gian cho bản (2011) thân; 3. Được nâng cao kỹ năng chuyên môn và khả năng sáng tạo.
(Nguồn: Tripti Singh & cộng sự (2012)) Trong bối cảnh của nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu và tham khảo sử dụng định nghĩa của Sirgy và các cộng sự (2001), Chất lượng sống trong công việc là việc thỏa mãn một tập hợp các nhu cầu của người lao động tại nơi làm việc. Tập hợp các nhu cầu này bao gồm: nhu cầu sức khỏe và an toàn, nhu cầu kinh tế và gia đình, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu hiện thực, nhu cầu kiến thức và nhu cầu thẩm mỹ (Sirgy, 2001). 123doc 11 Nhu cầu là một phần quan trọng trong bản chất của con người. Mọi giá trị, niềm tin và tập tục của con người là khác biệt tuỳ theo từng quốc gia hay từng nhóm người, tuy nhiên tất cả mọi người có những nhu cầu chung giống nhau.
Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người.
Nói cách khác, người lãnh đạo hoặc quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận. Trong trường hợp ngược lại việc không giao việc cho nhân viên là cách thức giảm dần nhiệt huyết của họ và cũng là cách thức để nhân viên tự hiểu là mình cần tìm việc ở một nơi khác khi làm việc là một nhu cầu của người đó. Trong luận văn này, tác giả có tham khảo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ & cộng sự (2011) về chất lượng sống của nhân viên tiếp thị tại thị trường Việt Nam. Theo đó, tập hợp các nhu cầu cần được thỏa mãn của chất lượng sống trong công việc được chia làm 03 nhóm nhân tố: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu kiến thức.
Dựa vào các đặc tính riêng có của thị trường lao động Việt Nam, đồng thời so sánh tính tương đồng của nhân sự của hai ngành nghề: tiếp thị và ngân hàng, tác giả sử dụng kết quả của nghiên cứu này để khảo sát trong đề tài nghiên cứu.