Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁN TREO 1.1/ KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA ÁN TREO TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH : 1. Khái niệ m về án treo: Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS năm 1999 thì: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”. Luật hình sự Việt Nam không có đưa ra khái niệm về án treo. Chế định án treo từ khi mới ra đời cho đến khi được quy định tại Điều 44 BLHS năm 1985 thì đã có những quan niệm khác nhau, đôi lúc án treo được hiểu là một biện pháp “tạm đình chỉ việc thi hành án” (tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946) hoặc là một biện pháp “hoãn hình có điều kiện” (Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12/1961 của TANDTC) hoặc là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (Nghị quyết số 01/1990/NQ-HĐTP).
Theo Công văn số 36/NCPL ngày 30-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao giải thích về án treo, thì: “ Pháp luật hình sự của nước ta từ trước tới nay chưa bao giờ coi “án treo” là một loại hình phạt. Trong các đạo luật hình sự của nước ta đã ban hành từ sau cách mạng tháng 8 đến nay có quy định về tội phạm và hình phạt thì đều không quy định loại hình phạt là “án treo”. Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27-6-1985 và có hiệu lực từ 1-1- 1986 tại Chương V về hình phạt và tại Điều 20 về các hình phạt chỉ quy định 7 loại hình phạt chính là “cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình”. Ở 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều luật này còn quy định 7 loại hình phạt bổ sung là “ cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tước danh hiệu quân nhân; tịch thu tài sản, phạt tiền” (khi không áp dụng là hình phạt chính).
Như vậy, trong số 14 loại hình phạt được quy định tại Điều 20 BLHS hoàn toàn không có “án treo”. Điều này có nghĩa là “án treo” không phải là hình phạt. Án treo chỉ được quy định ở Điều 44 Chương VI Bộ luật hình sự về “việc quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt”. Và tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã định nghĩa về án treo như sau: “án treo là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ, Toà án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt nếu trong thời gian thử thách , người đó không phạm tội mới”.
Do không nắm vững nội dung của án treo nên đã có người hiểu sai rằng án treo là một loại hình phạt, thậm chí còn gọi sai là “tù treo” và cho là “tù treo” nhẹ hơn “tù giam”. Cũng cần giải thích rõ: “tù giam”, “tù treo” là những thuật ngữ không chính xác về mặt pháp lý. Chỉ có hình phạt tù (bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân), còn giam là việc thi hành hình phạt tù. Chỉ có “án treo” với nghĩa là “miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”, chứ không có “tù treo” với tính chất là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù” [12-99].
Ngoài quan niệm về án treo được hiểu là một biện pháp “tạm đình chỉ việc thi hành án” (tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946) hoặc là một biện pháp “hoãn hình có điều kiện” (Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12/1961 của TANDTC) thì chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm về án treo trái với sự giải thích, hướng dẫn của TANDTC tại Nghị quyết số 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 01/1990/NQ-HĐTP mà đều thống nhất “án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện…”. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù” [46-372]. Theo PGS-TSKH Lê Văn Cảm thì “án treo là biện pháp miễn CHHP tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định” [17-810]. Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội thì “…Theo BLHS hiện nay, án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện…án treo thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đở tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên” [34-230].
Từ các quan điểm trên về án treo và nội dung về án treo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS, có thể đưa ra khái niệm về án treo như sau: Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, nếu người phạm tội có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội, Toà án sẽ miễn chấp hành hình phạt tù và ấn định một thời gian thử thách nhất định từ một năm đến năm năm; nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo đó. Trong 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời gian thử thách người bị án treo phải thực hiện một số nghĩa vụ ràng buộc theo quy định của pháp luật. Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tạo để hoàn lương, với sự giúp đở tích cực của chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc cơ quan công tác, gia đình, người thân, bạn bè và xã hội. Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục” và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta.
Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, hoà nhập với cộng đồng, giác ngộ được ý thức chấp hành chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nuớc, tuân thủ quy tắc cuộc sống XHCN. Bản chất pháp lý của án treo trong luật hình sự Việt Nam: Chế định án treo được ra đời từ rất sớm trên thế giới, ở các nước khác nhau thì chế định án treo được quy định mỗi cách khác nhau. Luật hình sự của Anh và Mỹ coi án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền. Luật hình sự của Pháp và Bỉ và một số nước khác coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt.
Các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, đa số coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; nhưng cũng có nước coi án treo là hình phạt chính, như Nước Cộng hoà dân chủ Đức [19-8]. Tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL ngày 14-2-1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà quy định: “Khi phạt tù, Toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành án. Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, Tội nhân không bị Toà án làm tội một lần nữa về một tội mới thì bản án đã tuyên 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ bị huỷ đi, coi như không có.
Nếu trong năm năm ấy, tội nhân lại bị kết án một lần nữa trước một Toà án thì bản án treo sẽ đem thi hành” [25-123]. Mặc dù Sắc lệnh quy định là “…Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ thi hành án…”, nhưng trong thực tế, nó được áp dụng như là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Nghĩa là trong 5 năm kể từ ngày tuyên án, nếu người được hưởng án treo không bị kết án một lần nữa thì bản án đã tuyên cho hưởng án treo sẽ bị huỷ đi coi như không có, và dĩ nhiên là họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt tù trong bản án cho hưởng án treo đó. Mười năm sau, tại Điều 12 Sắc lệnh số 267/SL ngày 15-6-1956 thì chế định án treo được bổ sung thêm, cụ thể là: “Đối với những kẽ phạm tội…bị phạt không quá 2 năm tù thì trong những trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định, Toà án có thể cho bị cáo hưởng án treo” [19-8].
Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12/1961 của TANDTC về việc áp dụng chế độ án treo thì khái niệm “án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với những kẽ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không thực cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đở tích cực của xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu còn tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tuỳ trường hợp, sẽ buộc phải chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết. Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách, họ không phạm tội gì mới, án trước sẽ được xoá bỏ” [25-121]. Có thời kỳ án treo được coi là hình thức xử lý nhẹ hơn hình phạt tù giam (Thông tư liên ngành số 19/TATC ngày 2-10-1974). Cụ thể Thông tư số 19/TATC ngày 2/10/1974 của TANDTC hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm hình sự, trong đó có hướng dẫn về án treo.