MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, dầu mỏ đã trở thành một loại năng lƣợng mang tính chiến lƣợc, là “nguồn máu” nuôi sống ngành công nghiệp, an ninh dầu mỏ gắn liền với cuộc sống và sự an toàn của mỗi quốc gia. Trên thực tế, dầu mỏ đã trở thành một “thƣơng phẩm mang tính chính trị chiến lƣợc”, các quốc gia đang cố gắng tranh giành nguồn tài nguyên này để bảo đảm an ninh quốc gia, thậm chí một số chính trị gia đã tuyên bố “ai chiếm đƣợc dầu mỏ cũng có nghĩa là đƣợc cả thế giới”. Đối với các nƣớc lớn trên thế giới nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản và EU đều tìm mọi cách gây ảnh hƣởng hoặc liên doanh hợp tác trên lĩnh vực năng lƣợng với những khu vực có trữ lƣợng dầu mỏ lớn nhƣ Trung Đông, Trung Á, Bắc Phi, Mỹ La-tinh.
Dầu mỏ đƣợc phát hiện từ lâu nhƣng mới bắt đầu đƣợc khai thác mang tính công nghiệp rộng rãi từ nửa cuối thế kỷ XIX, dầu mỏ là một bộ phận cấu thành của vấn đề an ninh năng lƣợng quốc gia, ứng dụng của dầu mỏ đã tạo nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Một mặt, dầu mỏ làm cho cuộc sống của nhân loại ngày càng thay đổi, mặt khác con ngƣời cũng ngày càng phụ thuộc và trở nên không thể tách rời khỏi dầu mỏ. Trong các mối quan hệ quốc tế hiện đại, dầu mỏ trở thành nguyên nhân của những cuộc đối kháng, xung đột, thậm chí cả chiến tranh để tranh giành ảnh hƣởng và khống chế nguồn dầu mỏ. Trên thực tế, nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra trên thế giới mà nguyên nhân sâu xa cũng bắt nguồn từ dầu mỏ.
Trong những năm gần đây, chủ đề an ninh năng lƣợng, đặc biệt là an ninh dầu mỏ luôn trở thành vấn đề đƣợc đặt lên hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển của mỗi quốc gia, cũng nhƣ trên các diễn đàn năng lƣợng quốc tế toàn cầu. Mặc dù khoa học công nghệ đã phát triển vƣợt bậc và ngày càng có nhiều nguồn năng lƣợng mới đƣợc sử dụng nhƣ năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời, dầu đá phiến. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tuy nhiên, dầu mỏ vẫn là một trong những nguồn năng lƣợng chủ đạo, có ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống thế giới trong nhiều năm tới, đặc biệt trong viễn cảnh một ngày không xa, nguồn dầu mỏ đƣợc ví nhƣ “vàng đen” của nhân loại sẽ dần cạn kiệt trong tƣơng lai. Đối với các quốc gia trên thế giới, tốc độ phát triển càng cao thì yêu cầu về đảm bảo an ninh dầu mỏ cho nền kinh tế càng lớn và trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam kể từ khi mở cửa nền kinh tế từ năm 1986 đến nay đã thu đƣợc những kết quả quan trọng, mang lại nhiều đổi thay tích cực cho nền kinh tế và vị thế của Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Sau hơn ba mƣơi năm đổi mới, đất Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu mở cửa. Tăng trƣởng kinh tế trong những năm qua luôn đạt mức cao, ổn định, cơ cấu nền kinh tế đƣợc chuyển đổi theo hƣớng CNH - HĐH với sự gia tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp. Để đạt đƣợc điều nói trên thì việc đảm bảo nhu cầu về dầu mỏ để phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH luôn đƣợc nhà nƣớc Việt Nam coi trọng và mang tính chiến lƣợc quốc gia trong bối cảnh mà nhu cầu sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ không ngừng tăng nhanh.
Dự báo trong những năm tới, nhu cầu về dầu mỏ vẫn tiếp tục tăng cao hơn nữa khi công cuộc CNH - HĐH của Việt Nam tiếp tục mở rộng cả về quy mô và mức độ. Trong khi đó nguồn dự trữ dầu mỏ quốc gia có hạn và sản lƣợng khai thác đang có chiều hƣớng đi xuống, khả năng sản xuất, cung cấp các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ trong nƣớc bị hạn chế cả về sản lƣợng và chất lƣợng. Trong tƣơng lai gần, Việt Nam sẽ phải đối diện với việc nhập khẩu các nguồn dầu mỏ từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nƣớc. Ngoài ra, sự biến động liên tục của tình hình chính trị và kinh tế trên thế giới luôn tiềm ẩn những bất ổn, rủi ro có thể làm gián đoạn các nguồn cung năng lƣợng, trong đó có dầu mỏ.
Đây cũng là tác nhân gián LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 tiếp tạo ra nguy cơ thiếu hụt nguồn cung dầu mỏ thế giới, nó sẽ tác động và ảnh hƣởng trực tiếp đến việc đảm bảo an ninh dầu mỏ đối với Việt Nam trong việc thực hiện Chiến lƣợc an ninh năng lƣợng quốc gia và sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc trong thời gian tới. Về lý luận, mặc dù đã có một số nghiên cứu quốc tế và Việt Nam đề cập đến an ninh dầu mỏ, an ninh năng lƣợng nhƣ một bộ phận của vấn đề an ninh phi truyền thống, nhƣng những nghiên cứu đi sâu vào phân tích nội hàm và nội dung của đảm bảo an ninh dầu mỏ trong bối cảnh hội nhập còn thiếu vắng. Về thực tiễn, đối với Việt Nam, nhận thức về các thách thức của an ninh dầu mỏ trong quá trình hội nhập quốc tế còn có bất cập, chƣa đầy đủ và chƣa theo kịp những diễn biến nhanh chóng của tình hình. Do đó, việc tìm ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp về mặt chính sách nhằm đảm bảo an ninh dầu mỏ trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần vào sự ổn định an ninh năng lƣợng quốc gia và phát triển kinh tế xã hội là yêu cầu cấp thiết, khách quan đặt ra trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu nhƣ hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên và căn cứ vào đặc thù công tác của bản thân, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “An ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1995 đến nay” cho luận án tiến sĩ của mình. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo Cơ quan Năng lƣợng quốc tế (IEA), vấn đề an ninh năng lƣợng không phải là vấn đề mới, đã đƣợc đƣa vào nghiên cứu đặc biệt từ sau khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Tính đến nay, số lƣợng các bài nghiên cứu quốc tế về an ninh năng lƣợng vô cùng đa dạng và phong phú, tuy nhiên số lƣợng các bài viết về an ninh dầu mỏ còn rất hạn chế.
Đa phần các bài viết về an ninh dầu mỏ chỉ xem dầu mỏ nhƣ là một nhân tố cấu thành của an ninh năng lƣợng nói chung và phân tích trong tổng thể về an ninh năng lƣợng, chứ không có đi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa an ninh dầu mỏ với hội nhập quốc tế. Trƣớc tiên, có thể kể đến công trình nghiên cứu của một số tác giả nhƣ sau: + Công trình nghiên cứu của Hillard G. Huntington (2008) “The Oil Security Problem” sử dụng công cụ phân tích kỹ thuật đề đánh giá mức ảnh hƣởng của giá dầu liên quan đến chính trị, các chính sách xã hội và nền kinh tế. Dự báo giá dầu cũng nhƣ tác động của nó đến tăng trƣởng kinh tế Mỹ 10 năm tiếp theo trên cơ sở nghiên cứu số liệu giai đoạn 1997-2006 để xem xét đến vấn đề an ninh dầu mỏ.
+ Công trình nghiên cứu của Christopher Dula (2015) “The Future of Petroleum Security in ASEAN” đăng trên tạp chí Asian Management Insights số 02 năm 2015. Tác giả đã đi vào phân tích sự thay đổi trong nhu cầu dầu khí của các nƣớc Châu Á trong những năm qua đang tăng lên nhanh chóng và xu hƣớng này càng tiếp tục sẽ đe doạ sự cân bằng nguồn cung, đặc biệt là các nƣớc Đông Nam Á. Từ đó để đảm bảo an ninh dầu khí cho sự phát triển thì cần có những giải pháp về hợp tác đầu tƣ và khai thác, chế biến các sản phẩm dầu khí, hoá dầu, kinh doanh và phân phối các sản phẩm của ngành dầu khí giữa các nƣớc ASEAN. + Công trình nghiên cứu của E.
Frankel (2008) “Oil and Security: A World beyond Petroleum” cung cấp một sự đánh giá toàn diện về các nhân tố kinh tế xã hội, chính trị, môi trƣờng ảnh hƣởng đến việc sử dụng và phát triển của năng lƣợng toàn cầu. Xem xét việc phát triển công nghệ tạo ra nhiên liệu và năng lƣợng thay thế nhiên liệu dầu khí nhằm đảm sạch hơn và an toàn an ninh năng lƣợng trong tƣơng lai. + Công trình nghiên cứu của Bo Kong (2009) “China’s International Petroleum Policy” tập trung vào xem xét cách thức quản lý trong lĩnh vực dầu mỏ của Trung Quốc, những điểm chính trong chính sách về hội nhập dầu mỏ quốc tế của quốc gia này, bên cạnh việc gia tăng ảnh hƣởng về chính trị và kinh tế của mình, Trung Quốc cũng phải đƣơng đầu với nhiều khó khăn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thách thức trên bàn cờ dầu mỏ quốc tế trong bối cảnh thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp và bất ổn về chính trị ở nhiều quốc gia giàu tiềm năng dầu mỏ, điều này ít nhiều đã tác động đến chính sách ngoại giao dầu mỏ của Trung Quốc. + Công trình nghiên cứu của Subhes C.Bhattacharyya và Govinda R.Timilsina (2009) “Energy demand models for policy formulation – A comparative study of energy demand models” tổng kết những dạng mô hình dự báo nhu cầu năng lƣợng đƣợc sử dụng trên thế giới từ những năm 70 đến trƣớc năm 2009.
Với việc sử dụng các mô hình dự báo để xác định tổng cầu của nền kinh tế cũng nhu cầu năng lƣợng của các lĩnh vực của nền kinh tế từ đó đƣa ra các chính sách phù hợp đảm bảo nhu cầu này. + Công trình nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Năng lƣợng Châu Á - Thái Bình Dƣơng Asia Pacific Energy Research Centre (2009), “APEC Energy Demand and Supply”, trong đó có dự báo trong giai đoạn 2005-2030 tỷ lệ nhu cầu sử dụng năng lƣợng bình quân mỗi năm 3,4% tƣơng ứng với tỷ lệ tăng dân số bình quân mỗi năm là 1,1% và tỷ lệ tăng GDP bình quân là 6,5%/năm. + Công trình nghiên cứu của các tác giảBruce Jones, David Steven và Emily O'Brien (2014), “Fueling a New Order?