MỞ ĐẦU 1. ý do thực hiện đề tài Tuân thủ thuế và một thành phần không thể thiếu trong quản trị tài chính và ổn định kinh tế. Các chính phủ trên toàn thế giới dựa vào việc tuân thủ thuế nhƣ một công cụ cơ bản để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, kích thích đầu tƣ, phân phối lại của cải và thu thập một cách công bằng trong xã hội (Gherghina, Botezatu, Hosszu, & Simionescu, 2020). Ở Việt Nam, việc tuân thủ thuế có ý nghĩa to lớn vì đây là nguồn thu chính của ngân sách nhà nƣớc (Nguyen, 2022).
Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nƣớc để thực hiện chƣơng trình kinh tế, chính trị, xã hội và để cung cấp dịch vụ công cho toàn dân. Thuế đóng một vai trò quan trọng trong ngân sách của bất kỳ nên kinh tế nào. Chính phủ đánh thuế tạo thu nhập, thông qua chính sách thuế để quản lý kinh tế và phân phối lại các nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nƣớc, cùng với đó bản thân là một phần cũng mong muốn góp phần đƣa ngành thuế phát triển Chính vì vậy nhiệm vụ quan trọng của ngành thuế ngoài việc tiết kiệm chi phí, mang lại nguồn thu thì bên cạnh đó cần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngƣời nộp thuế tuân thủ thuế phù hợp với tình hình hiện nay. Trong tình hình hiện nay gần 100% doanh nghiệp đã thực hiện khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, nhƣng đối với hộ kinh doanh vẫn quản lý theo phƣơng pháp truyền thống, nguồn thu đem lại thấp.
Do vậy việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế là giải pháp hữu hiệu tăng nguồn thu, giúp hộ kinh doanh tuân thủ thuế tốt hơn và là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp ngƣời nộp thuế và cơ quan thuế phòng chống dịch Covid- 19 hiệu quả. Trong những năm qua tình hình kê khai thuế của Hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Bến Cát có thể thấy rằng tỷ lệ hộ kinh doanh đăng ký mã số thuế nhƣng kê khai thuế khá thấp, năm 2020 đến năm 2021 tỷ lệ hộ kinh doanh kê khai thuế khi 1 đăng ký mã số thuế chỉ đạt hơn 24% đến năm 2022 vì tình hình kinh tế khó khăn qua nên tỷ lệ này càng thấp xuống 22%. Trong tình hình dịch Covid-19 vừa qua do quá trình quản lý thuế còn thủ công. Công tác nộp thu thuế, quản lý thuế bị gián đoạn.
Quá trình giãn cách xã hội cán bộ thuế không thể đến trực tiếp tại Hộ kinh doanh để thu thuế, hƣớng dẫn cách chính sách về thuế, bên cạnh đó ngƣời nộp thuế cũng không thể di chuyển đến cơ quan thuế để thực hiện các nghĩa vụ về thuế. Công tác quản lý thuế, thu thuế, tính thuế, nộp thuế, mua hóa đơn lẻ đƣợc thực hiện hoàn tại cơ quan thuế gây khó khăn, bất tiện và không an toàn cho ngƣời nộp thuế lẫn cơ quan thuế. Do vậy việc đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế là hoàn toàn cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022 trên địa bàn Bến Cát, Bình Dƣơng.
Qua đó, thực hiện một số kiến nghị phù hợp với tình hình thực tiễn nhầm nâng cao tính tuân thủ thuế của Hộ kinh doanh trên địa bàn. Tìm ra, phân tích, đánh những nhân tố ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế. Nhận diện những yếu kém trong công tác quản lý gây ảnh hƣởng đến tính tuân thủ thuế của hộ kinh doanh. Đƣa ra các khuyến nghị giúp ngƣời nộp thuế tuân thủ tốt hơn, tăng nguồn thu, giảm chi phí quản lý thuế hộ kinh doanh.
Mục tiêu cụ thể Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát trên, đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau đây: Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế của Hộ kinh doanh tại địa bàn thị xã Bến Cát. 2 Đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của Hộ kinh doanh tại địa bàn thị xã Bến Cát. Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao mức độ tuân thủ thuế của Hộ kinh doanh tại thị xã Bến Cát. Câu hỏi nghiên cứu Những nhân tố ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại địa bàn thị xã Bến Cát ? Mức độ tác động của các nhân tố trên đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh nhƣ thế nào ? Hàm ý quản trị nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh hiện nay? 4.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, khảo sát Đối tƣợng nghiên cứu: các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cố định trên địa bàn thị xã Bến Cát. Dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp tại các xã, phƣờng thuộc thị xã Bến Cát thông qua bảng câu hỏi khảo sát hộ kinh doanh và phỏng vấn một số chuyên gia, ngƣời nộp thuế. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng. Phạm vi thời gian: Các dữ liệu thứ cấp 2020 – 2022, số liệu sơ cấp sử dụng trong luận văn đƣợc giới hạn trong thời gian từ tháng 01 năm 2023 đến năm tháng 5 năm 2023 Phạm vi thu thập số liệu: 3 Số liệu sơ cấp đƣợc tổng hợp từ phiếu khảo sát phát trực tiếp và theo hình thức online thông qua bảng hỏi đƣợc thực hiện dƣới dạng google form và gửi qua zalo cho ngƣời nộp thuế.
Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài đƣợc thu nhập dựa vào số liệu từ hệ thống dữ liệu ngành thuế và một số văn bản hƣớng dẫn vể Quản lý thuế, Luật, Nghị định, Thông tƣ liên quan đến quản lý hộ kinh doanh. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn dùng cả hai phƣơng pháp định tính và định lƣợng. Định tính thông qua phỏng vấn các chuyên gia, hộ kinh doanh tại địa bàn Thị xã Bến Cát tìm hiểu mong muốn của họ về chính sách, quy trình, thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế. Cùng với đó là thông qua phỏng vấn giúp xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn, điều chỉnh thang đo cho phù hợp để thực hiện nghiên cứu định lƣợng.
Nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện qua bƣớc tiến hành trọn mẫu, khảo sát bảng câu hỏi (n=256), tiếp đó dữ liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS gồm: Đánh giá độ tin cậy của thang đo, Phân tích nhân tố khám phá EFA, Kiểm định các giả thuyết,… 6. ết quả nghiên cứu dự kiến Từ mô hình nghiên cứu chúng tôi đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu của đề tài H1: Tiền phạt và hình phạt H2: Chi phí tuân thủ thuế H3: Tính công bằng của chính sách thuế H4: Khả năng bị phát hiện H5: Kiến thức và giáo dục thuế H6: Hành vi tuân thuể thuế của hộ kinh doanh 4 Kết quả nghiên cứu cho thấy hiểu biết và kiến thức của ngƣời nộp thuế ảnh hƣởng đáng kể đến tuân thủ thuế và các yếu tố tiền phạt và hình phạt, chi phí tuân thủ cũng ảnh hƣởng không hề nhỏ đến tuân thủ thuế. Thêm vào đó là yếu tố công bằng là một tác động đáng kể đối với công tác quản lý hộ kinh doanh. Đóng góp của nghiên cứu Qua nghiên cứu phản ánh thực tế về tình hình quản lý thuế hộ kinh doanh trong tình hình hiện nay.
Nhân tố kiến thức và giáo dục không còn là nhân tố tác động chính trong điều kiện hiện nay vì trình độ hiểu biết của ngƣời dân về thuế và tuân thủ thuế đã đƣợc nâng lên đáng kể. Thay vào đó là chi phí tuân thủ thuế đang ảnh hƣởng đáng kể đến hành vi tuân thủ thuế đặt biệt là trong tình trạng dịch covid hiện nay. Ngoài ra tính công bằng cũng gây ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế. Trên cơ sở đó, thực hiện một số kiến nghị phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trên địa bàn Thị xã Bến Cát, điều này góp phần tăng thu ngân sách cho ngân sách nhà nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ kinh doanh tuân thủ thuế.
Dự kiến bố cục luận văn nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 hƣơng 1: Ơ Ở LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Hộ kinh doanh 1.1 Khái niệm về hộ kinh doanh Theo quan niệm của thế giới, nhƣ pháp luật Anh quan niệm thƣơng nhân đơn lẻ là một ngƣời kinh doanh bằng số tiền của mình; tự chọn lựa địa điểm phù hợp để tiến hành kinh doanh, có thể thuê thêm ngƣời lao động để phụ giúp trong việc kinh doanh hoặc không; số tiền vốn bỏ ra lúc đầu là của chính cá nhân tự tiết kiệm đƣợc mà có hay do cá nhân đi vay mƣợn (Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead, 1985). Khi nói về thƣơng nhân ở đất nƣớc Hoa Kỳ luật quy định doanh nghiệp có thể là một thƣơng gia với số tài sản cá nhân và doanh nghiệp này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân. Quan niệm về thƣơng nhân ở pháp luật này nói rằng thƣơng nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thƣơng mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thƣờng xuyên của mình. Theo hệ thống pháp luật này, tòa án nƣớc này sẽ xác định thực tế việc cá nhân trở thành thƣơng nhân.
Nếu là thƣơng nhân thì tên của họ sẽ đƣợc ghi trong sổ đăng ký thƣơng mại tại tòa án thƣơng mại (A. James Barnes, Terry Morehead Dworkin, Eric L. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trƣờng hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thỉ ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh.
Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, ngƣời đƣợc các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện kinh doanh là chủ hộ kinh doanh (Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 Của Quốc Hội ngày 13 tháng 6 năm 2019).