Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẮC TỘC SINGAPORE 1. Quá trình hình thành và phát triển “Singapore là một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ và đa tôn giáo. Người dân của nước này thuộc hai nền văn hóa lớn: Trung Quốc và Ấn Độ. Người Malay được coi là dân bản xứ sống lâu đời trên đảo.
Người Hoa di cư đến đây rất sớm. Có tài liệu cho rằng từ năm 1330 đã có một số người Hoa đến sinh sống trên đảo. Cho đến đầu thế kỷ XIX, đảo Singapore vẫn rất hoang vắng. Năm 1819, khi Stanford Raffles cập bến sông Singapore, chỉ có khoảng vài trăm người sinh sống bằng nghề chài lưới dọc theo hai bờ sông.
Chỉ sau khi Singapore trở thành thương cảng tự do và hoạt động buôn bán nhộn nhịp thì số dân trên đảo mới tăng nhanh. Trước hết người Hoa và người Malay di cư từ Malacca đến; tiếp theo đó là người Indonesia đến từ các đảo lân cận và đảo Java. Người dân Ấn Độ đến từ Penang và một số lính phục vụ dưới quyền của Stanford Raffles. Cộng đồng người Hoa tại Singapore Đợt di dân người Hoa đầu tiên xuất hiện vào thời thượng cổ, 4 và từ đó về sau các đợt di dân khác diễn ra thường xuyên hơn trong lịch sử quan hệ giữa Trung Hoa đại lục và khu vực Đông Nam Á.
3 Dương Văn Quảng (2007), Xingapo đặc thù và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 4 Viện Thông tin Khoa học Xã hội, “Những người Trung Quốc ở hải ngoại”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 93-61, Hà Nội, dẫn theo: De Beer Luong Brigitte (1993), Les Chinols d’outre-mer, “Défense Nationale”. 9 Nguyên nhân của các luồng di cư này chủ yếu là do tác động của ba yếu tố: kinh tế, chính trị và xã hội. Về mặt chính trị, vào giai đoạn cuối Minh đầu Thanh, chiến tranh loạn lạc thường xuyên xảy ra nên nhiều tổ chức “phản Thanh phục Minh” xuất hiện.
Và để bảo vệ sự cai trị của mình, nhà Thanh không ngừng khủng bố, càn quét những tổ chức này. Do đó, một phần lớn người Hoa di cư ra nước ngoài ở giai đoạn này là những người có tư tưởng chống đối chính quyền nhà Thanh. Về mặt xã hội, dân thường không chịu đựng được cảnh chiến tranh, loạn lạc nên rời khỏi Trung Quốc tìm chốn an cư lạc nghiệp. Đặc biệt, số dân thường di cư tăng cao vào giai đoạn Trung Quốc đương đầu với sự xâm nhập của thực dân phương Tây và kết quả là bị buộc phải mở cửa, trở thành “cái bánh béo bở” cho quân xâm lược xâu xé.
Về mặt kinh tế, chiến tranh loạn lạc gây khó khăn cho việc phát triển thương nghiệp nên một bộ phận thương nhân đã rời khỏi Trung Quốc, mang theo khối lượng tài sản lớn đến nơi khác lập nghiệp. Đặc biệt, vào giai đoạn trước Chiến tranh nha phiến (1840-1842) với đế quốc Anh, triều đình phong kiến Trung Quốc thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến cho giới thương nhân cảm thấy rất “ngột ngạt” và bị gò ép vì họ muốn mở rộng buôn bán với bên ngoài. Chính vì thế, đây cũng là lý do khiến một bộ phận không nhỏ di cư đến nơi khác để tìm cơ hội làm ăn thuận lợi hơn. Điểm đến chủ yếu của ba luồng di cư người Hoa nói trên chính là khu vực Đông Nam châu Á, vùng Biển Nam hay Nangyang (Nam Dương) theo cách gọi của người Hoa.
Trong đó, Singapore nổi lên như là một trong những điểm đến thu hút nhất, như Thomas Stafford Raffles đã từng nhận định: “Thành phố Singapore của tôi thực chất đã lôi cuốn những người Hoa ôn hòa, cần cù, tham vọng”. 5 Không giống những thương cảng khác trong khu vực, Singapore là một thương cảng mở và được hưởng rất nhiều ưu đãi từ giới cầm quyền, trong đó quan 5 Joseph B. Tamney (1996), The Struggle Over Singapore‘s Soul, Western Modernization and Asian Culture, Walter de Gruyer, Berlin, New York, p. 10 trọng nhất là chính sách miễn thuế đối với các thương thuyền cập cảng.
Thêm vào đó, dù là thuộc địa của thực dân Anh, nhưng Singapore không chịu sự bóc lột nặng nề. Một mặt, do đây chỉ là đảo nhỏ nên không có tài nguyên để khai thác. Mặt khác, người Anh xem Singapore là thương cảng trung chuyển, là trụ sở để đặt bộ máy cai trị, giám sát những thuộc địa khác trong khu vực nên đã kiến thiết Singapore trở thành một nơi mang đậm bản sắc châu Âu. Chính vì vậy, nhu cầu lao động phục vụ trong quân đội, cũng như phục vụ cho cuộc sống thượng lưu của giới chức cầm quyền và công dân Anh sinh sống tại đây đã biến Singapore thành điểm thu hút dân cư đến từ khắp mọi nơi.
Không chỉ bị hấp lực bởi nguồn cung công việc, người Hoa di cư còn bị nền văn hóa phương Tây tại Singapore thu hút và lôi cuốn. Xu hướng tôn sùng văn hóa Tây phương xuất hiện khá phổ biến trong một bộ phận người Hoa tại đây. Nguyên nhân là do người Anh có xu hướng thích cộng tác với người gốc Hoa nên đã mở trường học. Điều đó, cho nên, bỗng chốc trở thành con đường tiến thân hiệu quả cho những gia đình người Hoa tham vọng.
Họ cho con em mình vào các trường Anh học và trông đợi vào tương lai tươi sáng đang hứa hẹn phía trước. Như vậy, Singapore đã trở thành miền đất hứa cho người Hoa di cư từ Trung Hoa đại lục. Ngày càng có nhiều người Hoa di cư đến đây và, quan trọng nhất, trở thành sắc tộc chiếm đa số ở đảo quốc này từ năm 1827. Cộng đồng người Malay tại Singapore Thực chất, Singapore không phải là vùng đất hoang tại thời điểm Stamford Raffles đặt chân đến đây vào năm 1819.
Sông Telok Blangah, sông Kallang và những con sông khác từ lâu đã trở thành nhà của người Orang Laut (hay còn gọi là Sea Nomads). Đồng thời nơi đây cũng có những khu định cư của người Malay dọc theo lưu vực sông Kallang và sông Singapore. Ước đoán rằng vào thời điểm này có xấp xỉ 1.000 người sống tại Singapore, bao gồm khoảng 950 người Orang Laut, 20 6 Trần Khánh (1991), “Nhà nước và sự hình thành bản sắc quốc gia – dân tộc Singapore”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (1991), tr.18 và Bài viết về lịch sử Singapore trên Wikipedia: http://en.org/wiki/History_of_Singapore 11 đến 30 người Malay là cư dân theo vua Malay Abdul Rahman đến cai quản vùng đất này và khoảng 20 đến 30 người Trung Hoa. 7 Người Malay bản địa ở Singapore không chỉ có nhóm Orang Laut và nhóm Malay mà còn có những nhóm khác như Java, Bawean (hay còn gọi là Boyan), Bugis, Minangkabaus, Banjar và Batak.
Do vậy, việc khái quát hóa quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Malay ở Singapore sẽ trở nên thiếu sót nếu không đề cập đến cơ cấu sắc tộc này. Người Orang Laut (Sea Nomads) 8 Người Orang Laut còn được gọi là người Sea Nomads vì chuyên sống theo kiểu du cư trên thuyền ở khắp các vùng biển. Họ có bốn nhóm nhỏ hơn được biết đến với các tên gọi: Orang Kallang (hay là Orang Biduanda Kallang), Orang Seletar, Orang Selat và Orang Gelam. Năm 1819, theo thống kê có khoảng 500 người Orang Kallang, 200 người Orang Seletar và 150 người Orang Gelam tại Singapore.
9 Nhóm Orang Kallang (Orang Biduanada Kallang) sống trên thuyền tại những khu đầm lầy của sông Kallang, duy trì cuộc sống bằng cách câu cá và thu lượm nguyên liệu từ rừng. Sau 1819, vua Temenggong Abdul Rahman chuyển họ đến vùng Sungai Pulau phía bắc eo biển Singapore, song đến 1848 họ bị diệt vong do dịch đậu mùa. Nhóm Orang Seletar sống tại khu vực đầm lầy của các con sông và một số hòn đảo nhỏ xung quanh phần đất liền của Singapore. Họ thường tụ tập ở vùng biển, đặc biệt là tại cửa sông Seletar.
Nhóm này duy trì đời sống du mục cho đến những năm 1850 rồi bắt đầu sống trên đất liền và dần dần theo phong cách sống của những nhóm khác. 7 Xem http://en.org/wiki/Malays_in_Singapore, “Migration of Malays to Singapore after 1819”. 8 Xem http://en.org/wiki/Malays_in_Singapore, “The Orang Laut (Sea Nomads)”, dẫn theo: Sopher (1977). 9 Xem chú thích (8).
12 Nhóm Orang Selat sống tại khu vực cảng nước sâu Keppel. Người ta tin rằng việc nghiên cứu kỹ lưỡng thủy văn của cảng Keppel từ đầu thế kỷ XVI đã khiến họ trở thành những cư dân đầu tiên của vùng này. Nhóm này bán cá và trái cây cho các thương thuyền đi ngang qua cảng. Nhóm Orang Gelam có nguồn gốc từ một bộ lạc trên đảo Batam của Indonesia, 10 được vua Temenggong mang đến Singapore khi ông cùng tùy tùng thiết lập những khu định cư tại vùng đất này vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX.
Nam giới thường sống dọc theo sông Singapore và chèo thuyền cho tàu buôn, trong khi vợ con họ bán trái cây trên tàu. Nhìn chung, khác biệt giữa người Orang Laut với người Malay thể hiện ở chỗ: người Orang Laut chuộng lối sống du cư trên thuyền ở sông hoặc biển, còn người Malay có tập quán định cư trong những ngôi làng trên đất liền. Người Malay Như đề cập ở trên, vào thời điểm Raffles đến Singapore đã có hàng trăm người Malay bản địa sinh sống. Lượng người Malay tăng dần khi có một luồng nhập cư đến từ lục địa Malaya và quần đảo Malaya 11 (như các bang Riau, Sumatra, Penang, Malacca và Johore của Malaysia) do chính sách phát triển Singapore thành một trung tâm thương mại và hành chính của người Anh.
Số liệu của cuộc điều tra dân số vào năm 1931 cho thấy tổng số nam giới người Malay làm việc tại đây là 10 Đảo Batam thuộc tỉnh Riau Islands của Indonesia, có diện tích 415 km2, nằm cách bờ biển phía Nam của Singapore 20 km. Đảo có số dân đông nhất toàn tỉnh 724.315 người (số liệu tháng 12/2007), bao gồm 85% là người Malay, 14% là người Trung Hoa và vài bộ lạc Orang Laut bản xứ. Đảo Batam còn được biết đến như là một khu vực thương mại tự do (FTZ – Free Trade Zone) theo thỏa thuận hợp tác Sijori Growth Triangle ký kết giữa Singapore, Johor và Riau Islands vào năm 1989 với mục đích tạo ra sức mạnh cạnh tranh tổng hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư khu vực và quốc tế. Còn tỉnh Riau Islands (tiếng Indonesia là Riau Kepulauan hoặc Kepri Kepulauan) tiền thân thuộc tỉnh Riau của Indonesia.
Sau, tỉnh Riau được tách ra thành Riau Archipelago, Natuna Islands, Anambas, Lingga Islands và thành phố chính Tanjung Pinang từ từ tháng 7/2004. Xem http://en.org/wiki/Batam_Island, http://www.id/home/eng/data_kependudukan.php, http://en.org/wiki/Riau_Islands_Province, http://en.org/wiki/Sijori_Growth_Triangle. 11 Thuật ngữ gọi là Malaya Archipelago, bao gồm các đảo chính như: Borneo, Java, Luzon, Mindanao, New Guinea, Sulawesi và Sumatra. Xem http://en.org/wiki/Malay_Archipelago.290 người, trong đó 18% làm nghề chài lưới và 12% sống nhờ vào hoạt động nông nghiệp.