Chương 1: Tổng quan – Trình bày lí do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và bố cục của đề tài nghiên cứu. • Chương 2: Cơ sở lí thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày tổng quan lí thuyết nghiên cứu, thang đo của các khái niệm nghiên cứu và mẫu. • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày quy trình nghiên cứu, thang đo của các khái niệm nghiên cứu và mẫu. • Chương 4: Kết quả nghiên cứu – Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lí thuyết và các giả thuyết đề ra.
• Chương 5: Kết luận và kiến nghị – Trình bày tóm tắt các kết quả chính, những đóng góp và những hạn chế của đề tài nghiên cứu nhằm định hướng cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Thực trạng nghiên cứu về sự thành công của e-learning ở Việt Nam Qua tìm hiểu các nghiên cứu trước đây có nhiều nghiên cứu về sự thành công của hệ thống e-learning cung như hệ thống thông tin ở Việt Nam. Tuy nhiên đó chỉ là những nghiên cứu theo hướng tiếp cận riêng lẻ và nghiên cứu theo hướng tiếp cận đa chiều cho thấy còn nhiều hạn chế.
Cụ thể: Qua tìm kiếm trên Google Scholar với từ khóa “Sự thành công của hệ thống e- learning” thì kết quả cho thấy có một bài Sự thành công của e-learning dưới góc nhìn giá trị kinh doanh của công nghệ thông tin (Nguyễn, D. Với từ khóa “E- learning systems success in Vietnam” thì có rất nhiều các nghiên cứu về sự thành công của hệ thống e-learning khác nhưng hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên một trong các hướng tiếp cận mô hình chấp nhận công nghệ TAM, UTAUT hoặc sự hài lòng của người dùng như nghiên cứu “Impact factor on learning achievement and knowledge transfer of students through e-learning system at Bach Khoa University, Vietnam” của Pham & Huynh (2017), “Impact Factors on Using of E- learning System and Learning Achievement of Students at Several Universities in Vietnam” của Pham & Tran (2018) mà chưa có nghiên cứu về sự thành công của hệ thống e-learning theo hướng tiếp cận đa chiều nhưn nghiên cứu của Al-Fraihat và cộng sự. Sự thành công của hệ thống học tập điện tử (E-learning system) Trong nghiên cứu này, xem xét hệ thống e-learning như là một hệ thống thông tin. Do đó, sự thành công của một hệ thống e-learning được xem như Sự thành công của một hệ thống thông tin.
Bên cạnh đó, theo mô hình Sự thành công của hệ thống thông tin của DeLone & McLean (2003) thì sự thành công của hệ thống tin là những lợi ích mà người dùng sử dụng hệ thống thông tin đạt được. Ngoài ra, sự thành công của hệ thống học tập trực tuyến là việc đảm bảo thỏa mãn nhu cầu người dùng (Hassanzadeh và cộng sự. Do vây, Sự thành công của hệ thống e-learning chính là đảm bảo 7 thỏa mãn như cầu (sự hài lòng) và những lợi ích mà người dùng đạt được khi sử dụng hệ thống e-learning mang lại từ đó thúc đẩy họ sử dụng hệ thống e-learning để học tập nhiều hơn. Như vậy, khi người dùng sử dụng hệ thống e-learning càng đạt được nhiều lợi ích và đảm bảo được sự hài lòng thì sự thành công càng cao.
Như đã trình bày trong phần 1.1, Al-Fraihat và cộng sự. (2020) đã kết bốn hướng tiếp cận khác nhau để đánh giá lợi ích mà người dùng đạt được cũng chính là sự thành công của hệ thống e-learning một cách tổng thể, toàn diện và chặt chẽ hơn. Trong phạm vi của nghiên cứu này thì hướng tiếp cận đa chiều này là sự kết hợp của các hướng tiếp cận Sự thành công của hệ thống thông tin, Mô hình chấp nhận công nghệ TAM, UTAUT, Sự hài lòng của người dùng và Chất lượng của e-learning. Để làm rõ hơn về Sự thành công của hệ thống e-learning theo hướng tiếp cận đa chiều này chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các hướng tiếp cận này như sau: 2.
Theo mô hình sự thành công của hệ thống thông tin Trong bối cảnh của hệ thống thông tin, những nỗ lực để xác định sự thành công của hệ thống thông tin là hạn chế và không chính xác do tính chất phức tạp và liên ngành của lĩnh vực này (Petter và cộng sự, 2008). Để giải quyết vấn đề này, DeLone & McLean (1992) đã giới thiệu một mô hình đo lường mức độ thành công của hệ thống thông tin, sau khi xem xét 180 bài báo nghiên cứu được xuất bản trong giai đoạn 1981–1987 để đo lường mức độ thành công của hệ thống thông tin. Mô hình chứa sáu biến: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, sử dụng, sự hài lòng của người dùng, tác động của cá nhân và tác động của tổ chức. Seddon và Kiew (1994) là một trong những nhà nghiên cứu ban đầu đã thử nghiệm một phần mô hình và hỗ trợ một số giả thuyết trong mô hình.
Những nhà nghiên cứu khác (ví dụ: Pitt, Watson, & Kavan, 1995) đã kết hợp "chất lượng dịch vụ" vào mô hình. Seddon (1997) đã chỉ trích mô hình của họ và coi mối quan hệ qua lại giữa việc sử dụng và sự hài lòng của người dùng là rất khó hiểu. Ông đã xác định lại mô hình và thay thế "việc sử dụng hệ thống" bằng "nhận thức hữu ích" và chỉ cho phép một hướng quan hệ nhân quả. Rai và cộng sự.
(2002) đã so sánh mô hình của mở rộng mô 8 hình của DeLone & McLean (1992) và Seddon (1997) cho thấy rằng có mối tương quan giữa nhận thức hữu ích và việc sử dụng. Mười năm sau, DeLone & McLean cập nhật mô hình của họ. Mô hình mới đã giới thiệu 'chất lượng dịch vụ' như một cấu trúc mới cho mô hình, cấu trúc "sử dụng" được chia thành "ý định sử dụng" và "sử dụng" để đo lường sự thành công của hệ thống trong các lĩnh vực mà việc sử dụng hệ thống là tự nguyện và bắt buộc, và hai cấu trúc (tác động cá nhân và tổ chức) đã được hợp nhất thành lợi ích. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng mô hình này một phần và toàn bộ để hiểu rõ hơn về sự thành công của nhiều hệ thống thông tin bao gồm hệ thống e- learning (Chen, 2010; Cidral và cộng sự, 2018; Hassanzadeh và cộng sự, 2012; Lin, 2007; Lwoga, 2014; Marjanovic và cộng sự, 2016; Wang & Chiu, 2011).
Một nghiên cứu về việc sử dụng thực tế hệ thống học tập trực tuyến OLS (Lin, 2007) đã phát hiện ra ảnh hưởng đáng kể của chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ đối với việc sử dụng thực tế thông qua sự hài lòng của người dùng và hành vi ý định sử dụng OLS. Một nghiên cứu khác của Eom và cộng sự (2012) cũng cho thấy có mối quan hệ trực tiếp giữa chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin trong việc sử dụng hệ thống. Ngược lại, trong các nghiên cứu được thực hiện tại một trường đại học Australian của Klobas và McGill (2010) và Cidral và cộng sự. (2018) tại các trường đại học Brazil, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có bất kỳ mối quan hệ đáng kể nào giữa các khía cạnh chất lượng và việc sử dụng.
Sự mâu thuẫn giữa các nghiên cứu có thể là do tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện của việc sử dụng hệ thống, theo Eom và cộng sự. (2012), điều này có thể được giải thích bởi thực tế là, trong bối cảnh bắt buộc, sinh viên sử dụng hệ thống e-learning bất kể chất lượng của nó như thế nào vì nó là nơi duy nhất để truy cập các tài nguyên học tập, trong khi trong bối cảnh tự nguyện, các khía cạnh chất lượng của hệ thống ảnh hưởng đến quyết định sử dụng hệ thống hay không của người dùng. Một lí do khác có thể là do các biến can thiệp khác không được mô hình giải thích. Ngoài ra, kết quả có thể phụ thuộc vào cả bối cảnh của nghiên cứu và sự khác biệt về mẫu.
Cũng có sự khác biệt giữa phương sai được giải thích (R2) bởi các yếu tố chất lượng giữa các biến phụ thuộc trong các mô hình này. Vì lí do đó, Eom và cộng sự. (2012) tuyên bố rằng “mô hình DeLone & McLean có khả năng giải thích hạn chế trong việc giải thích vai trò của 9 các hệ thống e-learning đối với kết quả của e-learning”. Các nhà nghiên cứu đã kêu gọi nghiên cứu thêm để điều tra các yếu tố chất lượng của e-learning để tăng sức mạnh giải thích của mô hình DeLone & McLean (Awang, Osman, & Aji, 2018; Eom và cộng sự.
Theo mô hình chấp nhận công nghệ Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis và cộng sự. (1989) là hướng thứ hai để đánh giá sự thành công của hệ thống thông tin. Đây là lí thuyết được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường sự thành công của công nghệ mới về mức độ chấp nhận và sử dụng công nghệ (Surendran, 2012). Mô hình này được thành lập dựa trên lí thuyết Hành động có lí trí (TRA) và được phân loại theo các lí thuyết Tâm lí xã hội.
Mô hình gợi ý rằng khi người dùng được tiếp cận với công nghệ mới, một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ về cách thức và thời điểm họ sẽ sử dụng nó (Davis, 1989). Dựa trên mô hình này, các yếu tố bên ngoài, yếu tố xã hội (ví dụ: kĩ năng và ngôn ngữ), yếu tố văn hóa và yếu tố chính trị (tức là tác động của việc sử dụng công nghệ trong chính trị), là những yếu tố quyết định nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng (Surendran, 2012). Đổi lại, nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng là những yếu tố quyết định chính đến thái độ sử dụng công nghệ và ý định sử dụng. Kế tiếp, hành vi có ý định sử dụng là yếu tố quyết định chính của việc sử dụng hệ thống thực tế.
Một số lượng lớn các nghiên cứu đã được thực hiện dựa trên việc kiểm tra thực nghiệm tính mạnh mẽ và hợp lệ của mô hình này, cũng như các thang đo và công cụ của nó. Mô hình đã được mở rộng rộng rãi bằng cách sử dụng các biến khác nhau và cũng đã được sử dụng thành công để giải thích tính hữu ích và cách sử dụng trong các bối cảnh khác nhau, bao gồm cả bối cảnh của e-learning. Venkatesh và cộng sự. Sự ra đời của UTAUT đã nâng cao đáng kể sức mạnh giải thích của phương sai trong ý định sử dụng và đã được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi.